6 cách để tạo chiều sâu cho một bức ảnh

  • By Vsion team
  • 31 Dec, 2016

   Một vấn đề mà tất cả những người chơi ảnh đều mong muốn là làm thế nào để bức ảnh của mình có chiều sâu hơn, ảnh có cái nhìn, có hiệu ứng 3D hơn và bớt phẳng (2D) đi. Nghe thì dễ nhưng thực hiện thì khá khó khăn, do máy ảnh chỉ có thể cho lại một sản phẩm 2D mà thôi. Tuy nhiên, có một vài cách bạn có thể thử để tăng thêm chiều sâu cho bức ảnh của mình. Bạn có thể làm cho bức ảnh của mình có cảm giác và hiệu ứng không gian rộng lớn hơn. Hãy thử nghiên cứu 6 cách sau đây:

   ĐƯỜNG DẪN

   Phương pháp đơn giản nhất để tạo chiều sâu cho bức ảnh là kết hợp chụp và sử dụng "các đường dẫn". Đây là một kỹ thuật rất thành công đặc biệt khi chụp ảnh phong cảnh. Kỹ thuật này có thể áp dụng với ảnh kiến trúc, ảnh phong cảnh thành phố, và cả ảnh đường phố nữa.

   Khi nói đến "đường dẫn", rất nhiều người liên tưởng đến một đường thẳng, ví dụ như một hàng rào trong một ảnh phong cảnh, hoặc những đường dẫn hội tụ ví dụ như đường ray xe lửa. Những "đường dẫn" này hoàn toàn phù hợp để tăng chiều sâu cho một bức ảnh, tuy nhiên "đường dẫn" không cần phải là đường thẳng trong nhiếp ảnh.

   Bạn hãy nhìn vào bức ảnh một con đường uốn lượn ở phía trên và lưu ý cái cách mà con mắt của bạn nhìn theo đường dẫn đó từ tiền cảnh ra hậu cảnh xuyên suốt toàn bức ảnh. Cũng cần phải lưu ý tất cả những cái cây cao, gầy gò trên con đường đó cũng giúp hình thành nên đường dẫn, tạo nên một hiệu ứng hình ảnh có tác động mạnh mẽ hơn. Kết quả là ở đây chúng ta có một sự kết nối rất mạnh giữa tiền cảnh, trung cảnh và hậu cảnh, và bức hình có chiều sâu rất tốt.

  Tại sao kỹ thuật này lại hiệu quả: Đường dẫn giúp tạo nên hiệu ứng chuyển động trong bức ảnh do các đường dẫn hướng con mắt của người xem từ khu vực này sang khu vực khác trong toàn bức ảnh. Hơn nữa, các đường dẫn cũng giúp tạo sự chú ý mạnh vào chủ thể bức ảnh. Dù bằng cách nào đi nữa, con mắt của người xem cũng dõi theo những đường dẫn này, và bức ảnh sẽ tạo ra hiệu ứng không gian rộng hơn, có nhiều chi tiết hơn nó có thể có ở cái nhìn đầu tiên.

   ĐÓNG KHUNG

   Đóng khung nghĩa là sử dụng một yếu tố nào đó ở tiền cảnh như thế nó đang bao quanh chủ thể trong bức ảnh của bạn. Kỹ thuật này có thể được sử dụng trong rất nhiều thể loại, từ chân dung đến ảnh phong cảnh, từ ảnh thiên nhiên hoang dã đến ảnh trừu tượng. Bất kể chủ thể của bạn là gì, khung hình góp phần tạo ra góc nhìn mới nhằm tăng cảm giác về chiều sâu của ảnh.

   Nhìn vào bức ảnh động băng ở phía trên, bạn có thể nhìn thấy kỹ thuật đống khung giúp cho khung cảnh cải thiện chiều sâu về không gian của mình như thế nào. Kích cỡ của hang động và chủ thể ở phía cuối tạo nên cảm giác anh chàng trượt tuyết kia đang ở rất xa. Các chi tiết và bóng trên bức tường ở tiền cảnh cũng góp phần tạo nên chiều sâu này. 

   Tại sao kỹ thuật này lại hiệu quả: Sử dụng kỹ thuật khung trong khung, bạn đã thêm vào các yếu tố hướng con mắt người xem vào chủ thể của bức ảnh. Đặt khung ở tiền cảnh, bức ảnh có không gian và chiều sâu rất lớn vì khi so sánh, khung hình trong bức ảnh quá lớn còn chủ thể chính lại quá nhỏ. Sự khác biệt về kích cỡ này tạo nên hiệu ứng chiều sâu hình ảnh và khiến cho bức hình có cảm giác 3D hơn. Hơn nữa, đóng khung còn giúp người xem cảm thấy họ đang ở trong bức ảnh hơn là đang nhìn nó.

   ĐIỂM QUAN SÁT

   Điểm bạn chọn để bấm máy cũng ảnh hưởng đến chiều sâu của một bức ảnh. Ví dụ, nếu bạn đứng thẳng và chụp với tầm cao từ mắt mình, bức ảnh có thể sẽ rất "phẳng" do không có tiền cảnh để thu hút người xem. Tuy nhiên, nếu như bạn quỳ hay nằm xuống - đưa tiền cảnh vào nhiều hơn - bức ảnh có thể có chiều sâu hơn rất nhiều.

   Trong bức hình phía trên, chụp tại góc thấp giúp cho người xem thấy cánh đồng bí ngô này xa đến đâu. Ở tiền cảnh, các quả bí ngô đứng rất xa nhau, nhưng nhìn ra phía xa, chúng lại rất gần nhau, tạo nên chiều sâu và không gian rộng lớn. Hơn nữa, mọi người đã quen thuộc với kích cỡ của những quả bí ngô, việc chụp tại góc thấp và biến đổi một chút về kích cỡ khiến chúng trở nên gần gũi hơn và bức ảnh độc đáo hơn.

   Tại sao kỹ thuật này lại hiệu quả: Chụp tại góc thấp cũng giống như sử dụng đường dẫn hay đóng khung. Đưa thêm tiền cảnh vào trong bức ảnh của mình, bạn không chỉ mang đến cho người xem một góc nhìn độc và lạ hơn đối với những khung cảnh tưởng chừng như quen thuộc, bạn còn đưa vào những yếu tố và hiệu ứng hình ảnh giúp cho con mắt người xem dễ bị thu hút hơn.

   KẾT NỐI TIỀN CẢNH, TRUNG CẢNH VÀ HẬU CẢNH

   Trong rất nhiều trường hợp, đặc biệt khi bạn chụp ảnh phong cảnh, bức hình của bạn sẽ có các yếu tố về tiền cảnh, trung cảnh và hậu cảnh. Để tăng chiều sâu cho bức ảnh, việc kết nối những yếu tố này là rất quan trọng chứ không thể để rời rạc được.

   Trong bức hình phía trên, hãy để ý cánh đồng và cây cối đang ở tiền cảnh, ngọn đồi và các ngôi nhà ở trung cảnh và ngọn núi ở hậu cảnh. Con đường dốc thoải dài từ tiền cảnh hướng bạn chú ý vào trung cảnh nơi có các ngôi nhà. Và từ đây, những con đường quanh co lại hướng mắt bạn đến ngọn núi ở phía xa hơn.

   Tại sao kỹ thuật này lại hiệu quả: Bằng việc kết nối 3 "layer" trong một bức ảnh, bạn giúp cho con mắt người xem nhìn xuyên suốt được nội dung của toàn bức ảnh. Tiền cảnh giúp gây sự chú ý và thu hút con mắt người xem vào trung cảnh (thường chủ thể sẽ được đặt tại trung cảnh). Và trung cảnh luôn có cách kết nối nào đó với hậu cảnh, giúp cho người xem để ý được toàn bộ bức hình. Như vậy, sự kết nối này cũng giống với hiệu ứng sử dụng đường dẫn - tạo nên chiều sâu của bức ảnh bằng cách bắt con mắt người xem phải đi theo và chú ý đến toàn bộ bức hình.

   BÓNG

   Một trong những yếu tố tiên quyết và quan trọng nhất, đối với bất kỳ bức ảnh nào, đó là "ánh sáng". Ánh sáng tốt có thể cho ra bức hình đẹp, ánh sáng tồi sẽ làm hỏng bức hình. Nhưng gía trị của những chiếc bóng tạo ra bởi ánh sáng thường không được quá coi trọng.

   Khi nói đến việc tạo ra chiều sâu của bức ảnh, sử dụng những chiếc bóng không phải là việc đơn giản. Nhìn vào bức hình ở trên, mặc dù bức hình khá đơn giản, nhiều màu nhạt và không đặc sắc, nó vẫn có chiều sâu rất tốt nhờ có chi tiết vùng tối ở trên tiền cảnh và hậu cảnh làm nổi bật chủ thể. Ngoài ra, bóng của người đàn ông trong ảnh cũng là một yếu tố thu hút con mắt người xem và tạo nên hiệu ứng hình ảnh quan trọng trong trường hợp này.

   Tại sao kỹ thuật này lại hiệu quả: Bất kể việc sử dụng bóng trong tiền cảnh, trung cảnh hay hậu cảnh, kỹ thuật này có thể làm cho một bức ảnh đang "phẳng" trở nên có hiệu ứng "3D" ngay lập tức. Sử dụng bóng có thể sẽ đem lại hiệu quả rất lớn, bức ảnh sẽ trở nên thú vị và  dễ thu hút người xem hơn.

   ĐỘ SÂU TRƯỜNG ẢNH MỎNG

   Việc tạo độ sâu trường ảnh mỏng (DOF) và làm mờ hậu cảnh có tác dụng tạo chiều sâu cho bức ảnh rất tốt. Kỹ thuật này giúp bạn tách hẳn chủ thể ra khỏi bức ảnh thông qua sự khác biệt giữa nét và "out nét" của các chi tiết trong bức ảnh.

   Nhìn vào bức chân dung ở trên, mặc dù hậu cảnh đã bị mờ, nhưng chúng ta vẫn hiểu là có một khung cảnh khá lớn ở phía sau người phụ nữ này. Do người phụ nữ đạt độ nét hoàn hảo và được đặt ở tiền cảnh, cho chúng ta một cảm giác tách bạch và hiệu ứng 3D khá rõ so với phong cảnh ở phía sau.

   Tại sao kỹ thuật này lại hiệu quả: Trong trường hợp này, chiều sâu của bức hình được thể hiện thông qua độ nét giữa chủ thể và hậu cảnh. Do chủ thể đạt độ nét tốt và chính xác, người xem sẽ có cảm giác chủ thể ở rất gần. Và do hậu cảnh đang bị mờ, người xem có thể hiểu là hậu cảnh đang ở rất xa, có thể là ngoài tầm nhìn của chính bản thân mình.

    KẾT LUẬN

   Tạo ra một bức ảnh thú vị phức tạp hơn rất nhiều với việc đưa camera lên mắt và bấm nút chụp. Nếu bạn muốn thành công, bạn phải cân nhắc nhiều yếu tố, về bố cục, về chiều sâu, về câu chuyện và cả không gian của bức ảnh.

   Trong lần chup kế tiếp, hãy thử áp dụng một trong những kỹ thuật trên xem sao. Thử nghiệm với bóng và ánh sáng, tìm ra cách để kết nối tiền cảnh với hậu cảnh hay thay đổi góc nhìn. Tập luyện với những kỹ thuật này sẽ giúp bạn tăng thêm chiều sâu cho sản phẩm của mình dễ dàng hơn, và việc có những bức ảnh để đời sẽ chỉ còn là vấn đề thời gian mà thôi.


Bài viết gốc: photographytalk

N.Đ.Phan (P.N.)
Bài viết được biên tập bởi P.N.
Các bạn có thể liên hệ tác giả nếu muốn sử dụng lại bài viết
*** Để có thể comment bằng Disqus, đầu tiên các bạn cần đăng nhập bằng Facebook bằng cách click vào biểu tượng Facebook ở dưới
Bài viết mới

Vsion.vn

By Vsion team 01 Nov, 2017
   Với người sử dụng máy ảnh Sony không gương lật ngàm E thì kho ống kính ngàm A của Sony / Minolta là một nguồn ống kính rất phong phú với giá cả phải chăng và chất lượng tốt. Vì thế khi phát triển hệ thống máy ảnh ngàm E thì Sony cũng thiết kế các ngàm chuyển để người dùng có thể sử dụng được ống kính ngàm A trên máy ảnh ngàm E. Hiện nay có 4 loại ngàm chuyển tên là LA-EA ( L ens A dapter for E -mount cameras to use  A - mount lenses) được phân biệt như sau:

  • LA-EA1 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A có motor trong (SSM và SAM); ống kính không có motor lấy nét (điều khiển qua ốc vít) của Minolta và một số ống kính của Sony chỉ có thể lấy nét tay chứ không AF được. Ngàm này không có kính mờ (translucent mirror) ở giữa.

  • LA-EA2 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A không có motor trong (điều khiển qua ốc vít). Ngàm này có sử dụng kính mờ ở giữa ngàm nên làm giảm 30% lượng ánh sáng đi qua ống kính. Để điều khiển lấy nét, ngàm có hệ thống motor lấy nét nằm trong ngàm và hoạt động độc lập với camera nên tốc độ lấy nét, số điểm lấy nét không phụ thuộc máy ảnh. Ngàm sử dụng 15 điểm lấy nét theo pha (PDAF) trong đó có 3 điểm là cross-type .

  • LA-EA3 : giống LA-EA1 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame (ống kính crop sẽ không bao phủ được toàn bộ cảm biến).

  • LA-EA4 : giống LA-EA2 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame. LA-EA4 hoạt động được với tất cả ống kính ngàm A của Minolta, Sony, Tamron, Sigma, ngoại trừ các ống kính Minolta AF Xi.
By Vsion team 31 Oct, 2017
   Vào những năm 1850, nhiếp ảnh đã trở nên phổ biến và đỡ tốn kém hơn với nhiều người. Đây cũng là nguyên do dẫn tới một trào lưu trong thời kỳ Victoria (thời kỳ trị vì của Nữ hoàng Anh quốc Victoria từ 1837 tới 1901) gọi là trào lưu chụp ảnh cùng người mới chết ( post-mortem photography ) khi người chết được chụp ảnh trong cùng album với những người thân thích trong gia đình. Dưới đây là 2 phút video tài liệu về trào lưu này được thực hiện bởi kênh HISTORY .

   Được biết tới với cái tên memento mori (nghĩa là " hãy nhớ là bạn phải chết " - " remember you must die "), trào lưu này ngày càng trở nên thịnh hành và ngay cả Nữ hoàng Victoria cũng ngủ dưới tấm hình người chồng quá cố của mình.
By Vsion team 30 Oct, 2017
   Sigma là tập đoàn sản xuất thiết bị ngành ảnh lâu đời của Nhật được ra đời vào năm 1961 bởi Michihiro Yamaki và ông cũng là CEO của công ty cho tới khi qua đời vào năm 2012. Vẫn được biết đến như một công ty sản xuất ống kính cho các hệ máy ảnh của các hãng lớn và phục vụ hệ máy ảnh của chính công ty mình, các ống kính của Sigma có thể hoạt động trên các máy ảnh DSLR của Canon, Nikon, Pentax thông qua quá trình thiết kế bắt chước phương thức lấy nét tự động (AF) của các loại máy ảnh này. Các ống kính của Sigma có chất lượng thường được xếp sau các ống kính "chính hãng" và có mức giá dễ chịu hơn.

   Vào năm 2013, sau khi Michihiro Yamaki mất, Sigma cũng bắt đầu một cuộc cách mạng mới được đánh dấu với sự ra đời của dòng ống kính Global Vision với các ống kính được nâng cấp từ các ống kính hãng đã từng chế tạo theo tiêu chuẩn cao và nghiên cứu phát triển những ống kính mới chưa từng xuất hiện trên thị trường. Một điểm đặc biệt nữa của các ống kính Global Vision là Sigma lần đầu tiên nhận thay ngàm cho các ống kính này nếu người sử dụng có nhu cầu đổi hệ máy mà không muốn đổi ống kính. Ngoài ra, các ống kính Global Vision đều tương thích với Sigma USB Dock là một thiết bị kết nối trực tiếp với ống kính thông qua ngàm tương thích và điều khiển thông qua máy vi tính để cân chỉnh khả năng focus của ống kính, giúp người dùng có thể tự điều chỉnh ống kính khi độ chính xác chưa được như mong muốn.
By Vsion team 27 Oct, 2017
   Sau 2 năm rưỡi kể từ ngày Sony công bố A7R mark II (tháng 6 năm 2015), ngày hôm qua Sony đã chính thức công bố thế hệ thứ ba của chiếc máy ảnh full frame không gương lật cao cấp này. Trái với thứ tự ưu tiên công bố, thay vì công bố máy A7 dòng R (High Resolution - độ phân giải cao) sau A7 thì lần này Sony công bố A7R mark III  (hay A7RIII ) đầu tiên trong series mới. Động thái này có thể là lời đáp trả của Sony với sự kiện Nikon công bố máy ảnh full frame DSLR thế hệ mới D850 hồi tháng 4. Đây là một bất ngờ lớn với cộng đồng nhiếp ảnh vì những thông tin gần đây nhất có được đều hướng về A7 mark III. So với A7RII thì A7RIII có nhiều nâng cấp nhỏ thay vì cải tiến đột phá về công nghệ, thế nên chúng ta hãy nhìn vào chi tiết các tính năng và đặc điểm mới của chiếc máy này xem nó có phải một phiên bản tốt hơn hẳn thế hệ trước hay không.

   Bài viết này của Vsion chỉ tập trung phân tích các đặc tính được công bố của hãng cùng thông tin bổ sung từ các reviewer nên chúng ta vẫn cẩn xác nhận lại khi chiếc máy ảnh này đến tay người dùng. Cuối bài viết, chúng tôi cũng cung cấp bảng so sánh chi tiết A7RIII so với A7RII và Nikon D850 để bạn đọc có thể có cái nhìn đầy đủ về mối tương quan của chiếc máy ảnh này với hai lựa chọn gần với nó trên thị trường.
By Vsion team 18 Oct, 2017
   Chắc hẳn sẽ có lúc nào đó trong chuỗi ngày cầm máy ảnh, bạn sẽ thấy bí bách với những tấm ảnh mình thường chụp, với mức độ "xóa phông" của ống kính mình hay dùng, với những câu hỏi căn bản như ảnh của mình có lấy đúng nét hay không, bokeh có mịn màng không... Hoặc bạn sẽ thấy ống kính của mình rất giới hạn ở khả năng chụp gần, không tạo hiệu ứng 3D, khó tạo điểm nhấn đặc biệt... Nếu bạn gặp phải những chuyện này thì đó là chuyện hoàn toàn bình thường và rất dễ gặp khi chúng ta bị gò bò trong cách sử dụng các thiết bị các bạn đang có trong tay. Khi bắt đầu loạt bài viết Vượt qua giới hạn thiết bị , mình có suy nghĩ là muốn giới thiệu với các bạn những cách tiếp cận để tăng hiệu quả quang học của thiết bị và làm tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí quang học như đạt DOF mỏng hơn giới hạn, khử noise tốt hơn khả năng của máy, tuy nhiên một tấm ảnh đẹp không nhất thiết phải là một tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí chất lượng hình ảnh. Nếu như hai bài viết trước giúp các bạn phần nào cải thiện giới hạn trên của các thiết bị, trong bài viết thứ ba này mình muốn giới thiệu tới các bạn cách để vượt qua... giới hạn dưới của ống kính. Freelensing là tên của kỹ thuật nhiếp ảnh (hay lens whacking trong quay phim) giúp chúng ta gỡ bỏ những ràng buộc của ống kính và máy ảnh, làm tấm ảnh bộc lộ rõ những "điểm yếu về quang học" mà chúng ta thường tránh như hiện tượng lệch mặt phẳng nét, giảm độ nét hay bị light leak và flare khắp mọi nơi, nhưng đó mới là những thứ chúng ta cần khai thác để tạo ra những tấm ảnh có phong cách mới lạ và sáng tạo.

   Đầu tiên, mời các bạn xem video dưới đây do tác giả James Miller thực hiện hoàn toàn bằng phương pháp lens whacking để hiểu được hiệu ứng chúng ta sẽ đạt được bằng phương pháp này.
By Vsion team 13 Oct, 2017
   Ngày nay khá nhiều người mới tập sử dụng máy ảnh với ống kính AF có thể ngạc nhiên khi nhắc tới khái niệm lỗ khẩu hay lá khẩu, và khái niệm khẩu độ chỉ thể hiện bằng con số có thể điều chỉnh trên máy ảnh. Lý do là hiện nay máy ảnh đã được thiết kế để người dùng không phải điều chỉnh khẩu độ bằng tay thông qua cơ chế cơ học nữa (tuy nhiên vẫn có những loại ống kính cho phép điều khiển vòng khẩu độ mặc dù nó được điều khiển điện) và lá khẩu chỉ đóng rất nhanh khi chụp ảnh. Vì thế nên nếu các bạn không để ý, cũng dễ hiểu khi các bạn chưa từng nhìn thấy hình dạng cái lỗ khẩu nó ra làm sao.

   Vai trò của lỗ khẩu là một vị trí trong ống kính có thể điều khiển diện tích thông qua việc đóng, mở các lá khẩu và thay đổi lượng ánh sáng đi qua ống kính, từ đó giúp bạn điều chỉnh độ sâu trường ảnh, độ nét, mức độ sáng của hình. Trong thời kỳ ống kính chưa có hệ thống motor điều khiển lấy nét tự động thì các ống kính nhiếp ảnh đều có vòng khẩu độ nằm trước hoặc nằm sau vòng lấy nét để giúp bạn điều chỉnh giá trị f-stop. Do việc điều chỉnh khẩu độ hoàn toàn là cơ học nên một thao tác quan trọng khi dùng máy film để lấy nét là bạn mở vòng khẩu độ ra hết cỡ để lấy nhiều ánh sáng nhất có thể (nếu không viewfinder sẽ tối), sau đó lấy nét vào điểm mong muốn rồi mới hạ vòng khẩu độ này xuống giá trị f-stop bạn cần để chụp. Để phục vụ cho nhu cầu này, nhiều ống kính lấy nét tay (MF) có thêm một vòng khẩu độ nữa, có tác dụng giới hạn vòng khẩu độ thứ hai. Đây gọi là các ống kính pre-set (xác lập trước) mà khi sử dụng bạn cần chỉnh một vòng khẩu độ đến giá trị mong muốn, sau đó vặn vòng khẩu độ thứ hai di chuyển rất nhanh giữa vị trí mở khẩu độ lớn nhất và vị trí bạn đã xác lập trước mà không cần phải nhìn lại thân ống kính.
More Posts
Share by: