9 chiếc máy làm thay đổi ngành công nghiệp nhiếp ảnh trong 10 năm qua

  • By Vsion team
  • 10 Apr, 2017

Bài viết do P.N. dịch từ trang thephoblographer.com

   Công nghệ máy ảnh hiện vẫn đang phát triển nhanh chóng mỗi ngày, nếu như bạn nhìn vào khoảng thời gian 10 năm trước đây, tôi chắc rằng bạn sẽ có đôi chút giật mình khi nhận ra ngành công nghiệp nhiếp ảnh đã phát triển nhanh đến thế nào. Thực sự là rất đáng nể! Đối với những người vẫn chỉ chụp film cho đến ngày nay, có lẽ sẽ khó nhận ra các bước tiến về công nghệ đã phát triển với tốc độ chóng mặt như thế nào, nhất là khi sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Đặc biệt là khi máy ảnh số ra đời, mọi thứ dường như cũng bắt đầu thay đổi. Các công ty bắt đầu tập trung vào những bộ chip xử lý, các thuật toán, cảm biến, và vòng đời của sản phẩm cũng bắt đầu ngắn đi dần.

   Nhìn vào 10 năm qua, chúng ta hãy cùng điểm lại 9 chiếc máy đã thực sự đặt dấu ấn lên sự phát triển của ngành công nghiệp nhiếp ảnh.

Fujifilm X100

   Có một thời điểm cách đây không lâu, khi có nhiều nhiếp ảnh gia đã quay trở lại chụp film. Nhiều người đã gọi đó là "thú chơi nhất thời", nhưng thực sự là nó đã xảy ra với nhiều người, một số ít đã không còn chụp "ảnh số" quá nhiều, và chắc chắn nó không phải là "thú chơi nhất thời dở hơi". Sự đam mê hoài cổ trong giới chơi ảnh là có thật, và chiếc máy đầu tiên xây dựng vững vàng sở thích đó chính là chiếc Fujifilm X100. Nhiều người có thể tranh luận rằng chiếc Olympus Pen E-P1 mới là chiếc máy đầu tiên có thiết kế hoài cổ, nhưng nó không thể thành công được bằng chiếc X100. Với X100, khách hàng đã có một chiếc máy kiểu như Hexar AF chụp ảnh số, một ống kính tương đương với 35mm và khẩu độ f/2.0, nhỏ nhắn, thời trang và chất lượng ảnh thì rất tốt.

   Thành công của chiếc X100 đã mở màn cho cả một thế hệ X series tiếp theo từ Fujifilm và đã kéo một cộng đồng lớn những người đam mê hoài cổ theo nó. Đông đến mức, khiến cho rất nhiều hãng sản xuất khác cũng lao vào xu hướng này. Tất cả, trừ Canon...

Canon 5D mark IICanon 5D mark II

   Câu chuyện của chiếc Canon 5D Mk II cũng gần như tương tự. Không phải là chiếc máy đầu tiên có khả năng quay video HD, Nikon D90 đã có trước, và khả năng quay video cũng xuất hiện trên một số máy ảnh của Olympus trước đó nữa. Tuy nhiên, những gì mà chiếc 5D Mk II có thể làm đã thực sự làm thay đổi ngành công nghiệp ảnh. Lần đầu tiên, bạn có một chiếc máy có thể quay video chất lượng cao, chụp ảnh độ phân giải cao, chống chịu thời tiết và hệ thống lấy nét mạnh mẽ. Hơn nữa, khả năng chụp tại ISO cao cũng rất tuyệt.

   Nhiếp ảnh gia chụp cưới, quay phim, phóng viên ảnh, chụp studio, và rất nhiều thể loại khác đều lựa chọn 5D Mk II. Chiếc Canon 5D Mk III và IV đều không được thành công như kẻ tiền nhiệm của mình.

   Nikon D300

   Lại thêm một sản phẩm nữa cũng không phải là "kẻ đầu tiên"! Trong một thời gian dài, các phóng viên ảnh và nhiếp ảnh gia chụp cưới lựa chọn Canon 40D và Canon 5D Mk I. Những chiếc máy này khi chụp tại ISO cao cho ra noise và grain rất giống film. Sau đó, Nikon đã cho ra mắt D3, D700, và D300 – và từ đây, mọi chuyện bắt đầu thay đổi.

   Rất rất nhiều nhiếp ảnh gia và phóng viên ảnh đã chuyển sang chụp D300 vì khả năng chụp tại ISO cao tuyệt vời của nó. Lần đầu tiên, chúng ta có một chiếc máy có khả năng chụp ISO1600 như ISO400.

   Leica M9

   Trong nhiều năm, nhiều người vẫn cho rằng không thể nhét vừa cảm biến fullframe vào trong một chiếc máy ảnh không gương lật. Và rồi Leica đứng lên, kết hợp với Kodak sản xuất ra một cảm biến đặc biệt và thay đổi mọi chuyện. Khi chiếc Leica M9 được công bố, toàn bộ ngành công nghiệp nhiếp ảnh phải kinh ngạc và thèm muốn, mặc dù cái giá thì cao ngất ngưởng. Tuy nhiên, các nhà bán hàng thời đó vẫn nói rằng, Leica có thể đưa ra một mức giá cao hơn nữa cho chiếc M9 và không phải lo lắng rằng nó có bán được hay không.

   Cũng như mọi sản phẩm Leica khác, M9 cũng có một số vấn đề. Ảnh chụp tại ISO cao không được tốt so với các hãng khác. Tuy nhiên, nếu như bạn sử dụng máy giống như bạn sử dụng một chiếc máy film, với một cuộn film Chrome, bạn chắc chắn sẽ yêu nó.

   Hasselblad X1D

   Mặc dù chiếc Hasselblad X1D chỉ mới xuất hiện gần đây, nó cũng cho thấy một bước tiến lớn về mặt công nghệ. Chưa có ai làm ra một chiếc máy không gương lật medium format cho đến khi X1D ra mắt, kể cả tuy nó có nhỏ hơn cảm biến 645 đi chăng nữa. X1D xuất hiện, và thách thức tất cả.

   Pentax 645D

   Khi Pentax 645D được công bố đã thu hút được rất nhiều sự chú ý. Không chỉ vì hệ thống máy film của Pentax vốn luôn rất tốt và gần gũi, mà chiếc 645D cũng là chiếc medium format đầu tiên với back gắn liền có mức giá dễ chịu như vậy. Dòng Leica S2 cũng đi theo một concept tương tự nhưng thiết kế của 2 loại máy này là tương đối khác nhau.

   Cho đến thời điểm này, Pentax 645D vẫn được bán rất tốt.

   Sony A7

   Leica M9 là chiếc máy ảnh không gương lật đầu tiên có cảm biến fullframe, và một vài năm sau, Sony bắt kịp cuộc chơi và thêm vào chức năng lấy nét tự động. Sony a7 và a7r là 2 chiếc máy có khả năng lấy nét tự động, thiết kế không gương lật và độ bền tương đối tốt. Rất nhanh chóng, Sony thu hút được sự chú ý của cả cộng đồng. Và chỉ vài năm, hiện nay Sony đã gần như đứng đầu về dòng máy ảnh không gương lật.

   Cho đến thời điểm hiện tại, Sony vẫn đang tập trung và phát triển không ngừng cho mảng hoạt động này.

Olympus OM-D E-M5

   Chiếc Olympus OMD EM5 là lựa chọn và sản phẩm đầu tiên của Olympus sau khi từ bỏ cảm biến Kodak và chuyển sang sử dụng cảm biến của Sony. Nhưng trên hết, họ đã sản xuất được một chiếc máy không gương lật với thiết kế giống dòng máy danh tiếng OM SLR của mình. Ngoài ra còn có cả chống rung, chống chịu thời tiết, một số ống kính prime chất lượng tốt và nhiều điểm tuyệt vời khác nữa.

   Thời điểm ra mắt EM5 cũng là một thời kỳ mà ngành công nghiệp ảnh đang có những bước chuyển mình rất ấn tượng.

   Panasonic G1

   Chiếc máy ảnh đầu tiên thực sự tạo nên cơn sốt máy ảnh không gương lật chính là Panasonic G1. Lần đầu tiên, chúng ta có một chiếc EVF đẹp hơn tất cả những gì đang có trên những chiếc máy Point and Shoot, nhỏ, thay được ống kính và chất lượng ảnh tuyệt vời. Chỉ không lâu sau đó, Olympus tham gia vào cuộc chơi, rồi đến Samsung, rồi đến Sony, Fuji.... Nếu Panasonic không có quyết định trọng đại đó, có lẽ ngành công nghiệp ảnh ngày nay đã không thú vị đến vậy.
   Bài viết gốc: thephoblographer
*** Để có thể comment bằng Disqus, đầu tiên các bạn cần đăng nhập bằng Facebook bằng cách click vào biểu tượng Facebook ở dưới
Bài viết mới

Vsion.vn

By Vsion team 01 Nov, 2017
   Với người sử dụng máy ảnh Sony không gương lật ngàm E thì kho ống kính ngàm A của Sony / Minolta là một nguồn ống kính rất phong phú với giá cả phải chăng và chất lượng tốt. Vì thế khi phát triển hệ thống máy ảnh ngàm E thì Sony cũng thiết kế các ngàm chuyển để người dùng có thể sử dụng được ống kính ngàm A trên máy ảnh ngàm E. Hiện nay có 4 loại ngàm chuyển tên là LA-EA ( L ens A dapter for E -mount cameras to use  A - mount lenses) được phân biệt như sau:

  • LA-EA1 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A có motor trong (SSM và SAM); ống kính không có motor lấy nét (điều khiển qua ốc vít) của Minolta và một số ống kính của Sony chỉ có thể lấy nét tay chứ không AF được. Ngàm này không có kính mờ (translucent mirror) ở giữa.

  • LA-EA2 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A không có motor trong (điều khiển qua ốc vít). Ngàm này có sử dụng kính mờ ở giữa ngàm nên làm giảm 30% lượng ánh sáng đi qua ống kính. Để điều khiển lấy nét, ngàm có hệ thống motor lấy nét nằm trong ngàm và hoạt động độc lập với camera nên tốc độ lấy nét, số điểm lấy nét không phụ thuộc máy ảnh. Ngàm sử dụng 15 điểm lấy nét theo pha (PDAF) trong đó có 3 điểm là cross-type .

  • LA-EA3 : giống LA-EA1 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame (ống kính crop sẽ không bao phủ được toàn bộ cảm biến).

  • LA-EA4 : giống LA-EA2 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame. LA-EA4 hoạt động được với tất cả ống kính ngàm A của Minolta, Sony, Tamron, Sigma, ngoại trừ các ống kính Minolta AF Xi.
By Vsion team 31 Oct, 2017
   Vào những năm 1850, nhiếp ảnh đã trở nên phổ biến và đỡ tốn kém hơn với nhiều người. Đây cũng là nguyên do dẫn tới một trào lưu trong thời kỳ Victoria (thời kỳ trị vì của Nữ hoàng Anh quốc Victoria từ 1837 tới 1901) gọi là trào lưu chụp ảnh cùng người mới chết ( post-mortem photography ) khi người chết được chụp ảnh trong cùng album với những người thân thích trong gia đình. Dưới đây là 2 phút video tài liệu về trào lưu này được thực hiện bởi kênh HISTORY .

   Được biết tới với cái tên memento mori (nghĩa là " hãy nhớ là bạn phải chết " - " remember you must die "), trào lưu này ngày càng trở nên thịnh hành và ngay cả Nữ hoàng Victoria cũng ngủ dưới tấm hình người chồng quá cố của mình.
By Vsion team 30 Oct, 2017
   Sigma là tập đoàn sản xuất thiết bị ngành ảnh lâu đời của Nhật được ra đời vào năm 1961 bởi Michihiro Yamaki và ông cũng là CEO của công ty cho tới khi qua đời vào năm 2012. Vẫn được biết đến như một công ty sản xuất ống kính cho các hệ máy ảnh của các hãng lớn và phục vụ hệ máy ảnh của chính công ty mình, các ống kính của Sigma có thể hoạt động trên các máy ảnh DSLR của Canon, Nikon, Pentax thông qua quá trình thiết kế bắt chước phương thức lấy nét tự động (AF) của các loại máy ảnh này. Các ống kính của Sigma có chất lượng thường được xếp sau các ống kính "chính hãng" và có mức giá dễ chịu hơn.

   Vào năm 2013, sau khi Michihiro Yamaki mất, Sigma cũng bắt đầu một cuộc cách mạng mới được đánh dấu với sự ra đời của dòng ống kính Global Vision với các ống kính được nâng cấp từ các ống kính hãng đã từng chế tạo theo tiêu chuẩn cao và nghiên cứu phát triển những ống kính mới chưa từng xuất hiện trên thị trường. Một điểm đặc biệt nữa của các ống kính Global Vision là Sigma lần đầu tiên nhận thay ngàm cho các ống kính này nếu người sử dụng có nhu cầu đổi hệ máy mà không muốn đổi ống kính. Ngoài ra, các ống kính Global Vision đều tương thích với Sigma USB Dock là một thiết bị kết nối trực tiếp với ống kính thông qua ngàm tương thích và điều khiển thông qua máy vi tính để cân chỉnh khả năng focus của ống kính, giúp người dùng có thể tự điều chỉnh ống kính khi độ chính xác chưa được như mong muốn.
By Vsion team 27 Oct, 2017
   Sau 2 năm rưỡi kể từ ngày Sony công bố A7R mark II (tháng 6 năm 2015), ngày hôm qua Sony đã chính thức công bố thế hệ thứ ba của chiếc máy ảnh full frame không gương lật cao cấp này. Trái với thứ tự ưu tiên công bố, thay vì công bố máy A7 dòng R (High Resolution - độ phân giải cao) sau A7 thì lần này Sony công bố A7R mark III  (hay A7RIII ) đầu tiên trong series mới. Động thái này có thể là lời đáp trả của Sony với sự kiện Nikon công bố máy ảnh full frame DSLR thế hệ mới D850 hồi tháng 4. Đây là một bất ngờ lớn với cộng đồng nhiếp ảnh vì những thông tin gần đây nhất có được đều hướng về A7 mark III. So với A7RII thì A7RIII có nhiều nâng cấp nhỏ thay vì cải tiến đột phá về công nghệ, thế nên chúng ta hãy nhìn vào chi tiết các tính năng và đặc điểm mới của chiếc máy này xem nó có phải một phiên bản tốt hơn hẳn thế hệ trước hay không.

   Bài viết này của Vsion chỉ tập trung phân tích các đặc tính được công bố của hãng cùng thông tin bổ sung từ các reviewer nên chúng ta vẫn cẩn xác nhận lại khi chiếc máy ảnh này đến tay người dùng. Cuối bài viết, chúng tôi cũng cung cấp bảng so sánh chi tiết A7RIII so với A7RII và Nikon D850 để bạn đọc có thể có cái nhìn đầy đủ về mối tương quan của chiếc máy ảnh này với hai lựa chọn gần với nó trên thị trường.
By Vsion team 18 Oct, 2017
   Chắc hẳn sẽ có lúc nào đó trong chuỗi ngày cầm máy ảnh, bạn sẽ thấy bí bách với những tấm ảnh mình thường chụp, với mức độ "xóa phông" của ống kính mình hay dùng, với những câu hỏi căn bản như ảnh của mình có lấy đúng nét hay không, bokeh có mịn màng không... Hoặc bạn sẽ thấy ống kính của mình rất giới hạn ở khả năng chụp gần, không tạo hiệu ứng 3D, khó tạo điểm nhấn đặc biệt... Nếu bạn gặp phải những chuyện này thì đó là chuyện hoàn toàn bình thường và rất dễ gặp khi chúng ta bị gò bò trong cách sử dụng các thiết bị các bạn đang có trong tay. Khi bắt đầu loạt bài viết Vượt qua giới hạn thiết bị , mình có suy nghĩ là muốn giới thiệu với các bạn những cách tiếp cận để tăng hiệu quả quang học của thiết bị và làm tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí quang học như đạt DOF mỏng hơn giới hạn, khử noise tốt hơn khả năng của máy, tuy nhiên một tấm ảnh đẹp không nhất thiết phải là một tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí chất lượng hình ảnh. Nếu như hai bài viết trước giúp các bạn phần nào cải thiện giới hạn trên của các thiết bị, trong bài viết thứ ba này mình muốn giới thiệu tới các bạn cách để vượt qua... giới hạn dưới của ống kính. Freelensing là tên của kỹ thuật nhiếp ảnh (hay lens whacking trong quay phim) giúp chúng ta gỡ bỏ những ràng buộc của ống kính và máy ảnh, làm tấm ảnh bộc lộ rõ những "điểm yếu về quang học" mà chúng ta thường tránh như hiện tượng lệch mặt phẳng nét, giảm độ nét hay bị light leak và flare khắp mọi nơi, nhưng đó mới là những thứ chúng ta cần khai thác để tạo ra những tấm ảnh có phong cách mới lạ và sáng tạo.

   Đầu tiên, mời các bạn xem video dưới đây do tác giả James Miller thực hiện hoàn toàn bằng phương pháp lens whacking để hiểu được hiệu ứng chúng ta sẽ đạt được bằng phương pháp này.
By Vsion team 13 Oct, 2017
   Ngày nay khá nhiều người mới tập sử dụng máy ảnh với ống kính AF có thể ngạc nhiên khi nhắc tới khái niệm lỗ khẩu hay lá khẩu, và khái niệm khẩu độ chỉ thể hiện bằng con số có thể điều chỉnh trên máy ảnh. Lý do là hiện nay máy ảnh đã được thiết kế để người dùng không phải điều chỉnh khẩu độ bằng tay thông qua cơ chế cơ học nữa (tuy nhiên vẫn có những loại ống kính cho phép điều khiển vòng khẩu độ mặc dù nó được điều khiển điện) và lá khẩu chỉ đóng rất nhanh khi chụp ảnh. Vì thế nên nếu các bạn không để ý, cũng dễ hiểu khi các bạn chưa từng nhìn thấy hình dạng cái lỗ khẩu nó ra làm sao.

   Vai trò của lỗ khẩu là một vị trí trong ống kính có thể điều khiển diện tích thông qua việc đóng, mở các lá khẩu và thay đổi lượng ánh sáng đi qua ống kính, từ đó giúp bạn điều chỉnh độ sâu trường ảnh, độ nét, mức độ sáng của hình. Trong thời kỳ ống kính chưa có hệ thống motor điều khiển lấy nét tự động thì các ống kính nhiếp ảnh đều có vòng khẩu độ nằm trước hoặc nằm sau vòng lấy nét để giúp bạn điều chỉnh giá trị f-stop. Do việc điều chỉnh khẩu độ hoàn toàn là cơ học nên một thao tác quan trọng khi dùng máy film để lấy nét là bạn mở vòng khẩu độ ra hết cỡ để lấy nhiều ánh sáng nhất có thể (nếu không viewfinder sẽ tối), sau đó lấy nét vào điểm mong muốn rồi mới hạ vòng khẩu độ này xuống giá trị f-stop bạn cần để chụp. Để phục vụ cho nhu cầu này, nhiều ống kính lấy nét tay (MF) có thêm một vòng khẩu độ nữa, có tác dụng giới hạn vòng khẩu độ thứ hai. Đây gọi là các ống kính pre-set (xác lập trước) mà khi sử dụng bạn cần chỉnh một vòng khẩu độ đến giá trị mong muốn, sau đó vặn vòng khẩu độ thứ hai di chuyển rất nhanh giữa vị trí mở khẩu độ lớn nhất và vị trí bạn đã xác lập trước mà không cần phải nhìn lại thân ống kính.
More Posts
Share by: