Hiệu ứng tia của ống kính - giới thiệu chung

  • By Vsion team
  • 27 Jun, 2017
   Mặc dù không phải một yếu tố chính ảnh hưởng tới đặc tính quang học của ống kính nhưng đặc trưng tia của ống kính có thể mang tính quyết định để người dùng chọn mua một loại ống kính phù hợp với nhu cầu của mình, đặc biệt là chụp cảnh. Trong bài viết này Vsion sẽ giúp các bạn hiểu cơ chế hình thành tia dạng sao khi chụp ảnh hạ khẩu độ, các điểm cần lưu ý nếu các bạn muốn tia xuất hiện đẹp trong hình, và quan trọng nhất là hình ảnh đặc trưng tia của rất nhiều ống kính mà Vsion chọn lọc để các bạn có thể tham khảo. Do phần ảnh tham khảo sẽ có dung lượng lớn nên Vsion chia bài viết này thành các bài viết nhỏ, trong đó bài viết tổng quát này có danh sách các ống kính đã có ảnh tia để các bạn có thể quyết định tìm hiểu trong các danh sách riêng đi kèm ảnh mà Vsion cung cấp.
1. Hiện tượng nhiễu xạ và cơ chế hình thành tia
   Nhiễu xạ  ( diffraction ) là hiện tượng thay đổi hướng di chuyển của sóng ánh sáng khi đi qua khe hẹp hoặc cạnh của vật thể. Trong một chùm tia gặp cản trở, các tia bị thay đổi khác nhau, bao gồm các tia đi thẳng (undeviated light) và các tia bị nhiễu xạ (deffracted light). Hiện tượng này áp dụng với tất cả các loại sóng như sóng nước, sóng điện từ.
Các tia sáng bị nhiễu xạ khi đi qua khe hẹp hoặc cạnh của vật thể. Nguồn: www.bhphotovideo.com
   Khi đi qua lỗ hẹp, thay vì ánh sáng đi ra dưới dạng một điểm sáng thì chúng ta có thể thấy dạng đĩa tròn với các vòng tròn đồng tâm bao quanh với cường độ giảm dần, gọi là đĩa Airy (Airy disk). Tuy nhiên hiện tượng đĩa Airy rất khó quan sát được trong thực tế vì lỗ khẩu trong ống kính thường không có dạng tròn khi khép sâu và cường độ ánh sáng thường không đủ lớn để quan sát các vòng tròn đồng tâm. Hệ quả phổ biến hơn của nhiễu xạ chính là việc giảm độ nét chi tiết khi chúng ta khép khẩu quá sâu làm lỗ khẩu trở nên rất nhỏ và làm phần lớn các tia sáng đi qua bị chệch hướng và không thể tập trung chính xác trên mặt phẳng nhận hình ảnh (cảm biến / film). Chính vì thế, việc khép khẩu ống kính xuống rất nhỏ, mặc dù có thể làm tăng độ sâu trường ảnh, thường làm giảm chất lượng ảnh.
1. Đĩa Airy hình thành khi 1 điểm sáng đi qua lỗ tròn; 2: Các tia sáng tạo các đĩa Airy chồng nhau và làm giảm độ nét hình; 3: Đĩa Airy quan sát trong thực tế với ống kính Rubinar 1000mm f/10. Nguồn: www.bhphotovideo.com, wikipedia
   Tuy nhiên một hiệu ứng của nhiễu xạ lại được người dùng máy ảnh rất hưởng ứng, đó là hiện tượng tạo tia khi khép khẩu, hay còn được gọi bằng nhiều cái tên như hiệu ứng sao (star effect) hay tia mặt trời (sunstar, sunburst). Ở điều khiện khẩu độ mở lớn nhất hoặc chưa khép khẩu sâu, lỗ khẩu ở dạng tròn hoặc diện tích còn lớn nên ánh sáng đi qua bị nhiễu xạ rất ít nên chúng ta không thể quan sát được hiện tượng tia. Khi lỗ khẩu được khép lại và có dạng đa giác, mỗi chùm tia đi qua một cạnh của lá khẩu sẽ bị chệch đi. Phần lớn các tia sáng sẽ bị chệch đi theo 2 hướng chính đối xứng nhau qua trục vuông góc với cạnh lá khẩu (nếu lá khẩu thẳng).

   Chính vì thế, nếu ống kính của bạn có số lá khẩu lẻ thì số tia bạn nhận được sẽ bằng hai lần số lá khẩu, còn nếu số lá khẩu chẵn thì vì các tia đối xứng chồng lên nhau nên các bạn sẽ nhận được số tia bằng đúng số lá khẩu.
Số tia hay số cánh sao (point) được xác định dựa trên số lá khẩu (blade). Do chùm tia đi qua mỗi cạnh lá khẩu tạo ra hai tia nhiễu xạ nên số cánh sao bằng số lá khẩu nếu số lá khẩu chẵn và bằng 2 lần số lá khẩu nếu số lá khẩu lẻ. Nguồn: www.picturecorrect.com
Hình ảnh tia sáng thực tế với các ống kính có số lá khẩu khác nhau. Nguồn: www.picturecorrect.com
   Chúng ta không cần phải có ống kính máy ảnh để nhìn thấy hiệu ứng tia mà hàng ngày chúng ta có thể nhìn thấy hiện tượng này bằng mắt thường. Con mắt của chúng ta hoạt động như một ống kính với phần thủy tinh thể để thu ánh sáng lên võng mạc. Trên đường đi của ánh sáng, đồng tử mắt và đôi khi cả lông mày là hai vật cản khiến ánh sáng bị nhiễu xạ. Khi nhìn vào nguồn sáng mạnh như đèn đường, các bạn có thể nhìn thấy có rất nhiều tia nhỏ phát ra và hiệu ứng này có thể rõ hơn khi bạn nheo mắt lại (giống như việc hạ khẩu độ ống kính). Tuy nhiên các "vật cản" này không có dạng đa giác đều như lỗ khẩu của ống kính nên chúng ta không thể thấy dạng sao đẹp như ảnh chụp được.
Con mắt cũng là một thấu kính với hiện tượng nhiễu xạ xảy ra do đồng tử và mí mắt, lông mày cản một phần ánh sáng. Ảnh: B. Jacqueline
   Một trường hợp ống kính có dạng tia đặc biệt mà nhiều khi không được nhắc tới là trường hợp các ống kính anamorphic dùng trong quay phim. Các ống kính hay adapter này có phần lỗ khẩu dạng oval chứ không phải dạng tròn như lỗ khẩu bình thường nên mặc dù không cần phải khép khẩu, ánh sáng mạnh đi qua lỗ khẩu này sẽ nhiễu xạ theo trục dài của lỗ khẩu và tạo dạng flare 2 tia rất đặc trưng trong quay phim.
Hiệu ứng flare của ống kính anamorphic cũng là một dạng tia đặc biệt với 2 cánh. Ảnh: Lyle Vincent
2. Những lưu ý để kiểm soát hiệu ứng tia
   Mặc dù nguyên tắc để chụp tia khá đơn giản, vẫn có một số lưu ý các bạn nên biết để kiểm soát hiệu ứng tốt.
   Ống kính có lá khẩu thẳng tạo tia đẹp hơn ống kính có lá khẩu cong
   Do bản chất ánh sáng nhiễu xạ, khi ánh sáng đi qua lỗ khẩu tạo bởi các lá khẩu thẳng (lỗ khẩu tạo hình đa giác) thì hiệu ứng tia sẽ ra rõ ràng, còn nếu các lá khẩu dạng cong (ở hình dưới) thì các tia nhiễu xạ bị phân tán và không tạo dạng tia rõ nét. Vì đặc điểm này nên hiệu ứng tia và hiệu ứng bokeh khó có thể cùng được tối ưu ở một ống kính, do lá khẩu cong để làm lỗ khẩu tròn sẽ tạo bokeh mịn, tròn nhưng sẽ không tốt để tạo hiệu ứng tia. Như trường hợp các ống kính nhiều lá khẩu dạng tròn như các ống kính Nga cũ, rất khó để các bạn chụp được tia, nhưng các ống kính Nhật hay Đức chỉ có 5, 7 lá khẩu thì thường chụp được tia khá đơn giản.
Ống kính có lá khẩu cong (bên trái) và ống kính có lá khẩu thẳng (ở giữa và bên phải). Nguồn: Dpreview
   Che bớt nguồn sáng tạo tia có thể làm tăng hiệu ứng
   Có một mẹo nhỏ rất hay được sử dụng để làm hiệu ứng tia nổi bật hơn, đó là che một phần nguồn sáng dùng để tạo tia (như mặt trời) bằng cản một phần nguồn sáng như dùng bức tường hoặc đường chân trời lúc mặt trời sắp lặn, hoặc chụp qua các khe, lỗ hẹp như kẽ lá, lỗ tròn. Việc tạo cản trở nguồn sáng trước khi tới ống kính làm ánh sáng bị nhiễu xạ trước khi bị nhiễu xạ lần hai qua lỗ khẩu nên tỷ lệ các tia chệch hướng cao hơn và làm hiệu ứng rõ ràng hơn. Ngoài ra, việc che bớt nguồn sáng sẽ tạo vùng tối quanh nguồn sáng và làm tia nổi bật hơn.
Tăng hiệu ứng tia bằng cách chặn một phần nguồn sáng. ©Todd Vorenkamp (www.bhphotovideo.com)
   Khẩu độ càng nhỏ, thời gian phơi sáng càng dài thì hiệu ứng tia càng rõ
   Đặc tính tia của ống kính thay đổi phụ thuộc vào khẩu độ và thời gian phơi sáng. Thông thường ở khẩu độ lớn và khẩu độ trung bình, các tia sáng thường thiếu tập trung và xuất hiện nhiều tia phụ do lượng ánh sáng đi qua lỗ khẩu còn lớn và phức tạp, nhưng khi hạ khẩu xuống mức độ nhỏ nhất định thì các nhóm tia nhiễu xạ sẽ được tập trung lại thành các tia rõ ràng và gọn. Tăng thời gian phơi sáng sẽ làm các tia dài hơn và nhìn chung có thể tăng hiệu ứng tia cho tấm ảnh. Tuy nhiên, cần lưu ý là đôi khi giảm thời gian phơi sáng (underexpose) có thể giảm bớt các hiệu ứng phụ không mong muốn và làm tia sạch hơn.
Hiệu ứng tia khác nhau ở khẩu độ khác nhau. Ống kính Canon EF 16-35mm f/2.8L khi hạ khẩu xuống hết mức ở f/22 sẽ chụp được tia 14 cạnh rất gọn và sắc, nhưng ở khẩu độ f/13 hay f/16, khá nhiều tia phụ và hào quang làm chất lượng tia kém hơn. Nguồn: visualwilderness.com
   Filter, lỗi ống kính, flare, phản xạ cảm biến là các yếu tố khác ảnh hưởng tới đặc tính tia
   Mặc dù đặc tính tia chủ yếu được quyết định bởi đặc tính lỗ khẩu, nhưng mức độ đẹp của tia có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác. Do nguồn sáng mạnh tạo tia có thể phản xạ trên bề mặt kính nên hiện tượng flare và ghost luôn đi đôi với các tia lấy từ nguồn sáng mạnh như mặt trời. Một số ống kính có tia gọn, đẹp, nhưng khả năng chịu flare và ghost kém cũng làm tia không còn được rõ ràng khi phơi. Trong trường hợp này, bạn cần cẩn thận khi chọn nguồn sáng để lấy tia. Ngoài ra, trong quá trình sử dụng hoặc do lỗi trong quá trình chế tạo, các lá khẩu không được xếp đều nhau cũng làm tia tạo ra không được cân đối. Đặc biệt là các ống kính tự động với di chuyển lá khẩu nhanh do điều khiển điện tử sẽ dễ có nguy cơ bị lệch đi một chút sau một thời gian sử dụng, cũng tương tự như các ống kính có chất lượng chế tạo không thật tốt có thể có hiện tượng lệch lá khẩu ngay sau khi xuất xưởng.

   Đôi khi bạn sẽ thấy các hiệu ứng "lạ" do mặt kính của ống kính hoặc filter bị bẩn, nên trừ khi bạn chủ động tạo hiệu ứng nghệ thuật cho tấm ảnh, việc lau sạch ống kính và filter cũng làm cải thiện chất lượng hình hơn.
Ảnh hưởng của bụi, vết bẩn trên filter khi phơi sáng lấy hiệu ứng sao (AF-S NIKKOR 14-24mm F2.8G ED)
   Hiểu đặc tính tia của ống kính sẽ giúp bạn đạt hiệu quả cao và cân bằng các yếu tố trong tấm ảnh
   Như ở trên mình đã nói, hiệu ứng tia không đi đôi với hiệu ứng bokeh, nhiều khi chúng ta chỉ có thể chọn một trong hai. Ngoài ra, khi hạ khẩu sâu để đạt hiệu ứng tia như mong muốn, chúng ta còn hy sinh cả độ nét của ảnh. Chính vì thế, có một số ống kính chất lượng cao, như Zeiss Loxia 21mm f/2.8 ở hình dưới, có thể tạo tia đẹp ngay từ khẩu độ trung bình như f/5.6, thì chúng ta không nhất thiết phải hạ xuống khẩu độ nhỏ nhất để tạo hiệu ứng tia, trong khi vẫn cân bằng được độ sắc nét và hiệu ứng bokeh của hình. Trường hợp ống kính Canon EF 16-35mm f/2.8L như ở trên có nhắc tới cũng là một ví dụ thể hiện rõ điều này: nếu bạn không biết là hạ khẩu xuống f/22 ống kính mới tạo được tia sắc gọn thì có thể bạn sẽ cho rằng tia của ống kính này xấu. Hiểu được thiết bị mình đang dùng là yếu tố rất quan trọng để kiểm soát các yếu tố của tấm ảnh. Chính vì vậy, trong phần tiếp theo, Vsion xin giới thiệu tập hợp chọn lọc ảnh với hiệu ứng tia của rất nhiều ống kính để các bạn tham khảo trước khi quyết định ống kính nào phù hợp với mình.
Zeiss Loxia 21mm f/2.8 có thể tạo tia sắc, rõ ngay ở f/5.6 (Sony A7R II)
3. Danh sách các ống kính với ảnh tia được Vsion tập hợp
   Khác với việc tra cứu tham khảo độ nét hay các đặc tính khác của ống kính, nhiều khi khá khó để biết được tính chất tia của ống kính nếu các bài review không đề cập tới hoặc chúng ta không có ai quen biết để hỏi. Vì vậy Vsion tập hợp ảnh những ống kính có thể tìm được trên web với tia đặc trưng để thuận tiện hơn cho các bạn tìm hiểu. Danh sách trong bài viết này sẽ còn được cập nhật khi Vsion bổ sung thêm các ống kính khác. Các bạn có thể tìm ống kính mình muốn tìm hiểu trong danh sách này trước khi quyết định xem ảnh vì một bài viết có thể có vài chục ảnh nên dung lượng khá lớn.

   Do khả năng của team có hạn nên nếu các bạn thấy có thể bổ sung hình ảnh của ống kính nào (Vsion chưa có hoặc các bạn có hình đẹp hơn) thì các bạn hãy liên hệ với Vsion để thêm vào danh sách.

1. Samyang 10mm F2.8 ED AS NCS CS (6 cánh)

2. Sony SEL 10-18mm f/4 OSS (14 cánh)

3. Canon EF-S 10-22mm f/3.5-4.5 USM (6 cánh)

4. Sigma 10-20mm f/3.5 EX DC HSM (14 cánh)

5. Sigma 10-20mm f/4-5.6 EX DC HSM (6 cánh)

6. IRIX 11mm f/4 (18 cánh)

7. Tokina AT-X PRO DX 11-16mm F/2.8 (18 cánh)

8. Voigtlander Heliar Ultra Wide-Angle 12mm f/5.6 (18 cánh)

9. Laowa Zero-D 12mm f/2.8 (14 cánh)

10. Pentax-DA SMC 12-24mm f/4 ED AL (8 cánh)

11. Olympus ED 12-40mm f/2.8 PRO (14 cánh)

12. Nikon AF 14mm f/2.8D ED (6 cánh)

13. Samyang 14mm Ultra Wide-Angle f/2.8 IF ED UMC (6 cánh)

14. Nikon AF-S NIKKOR 14-24mm f/2.8G ED (9 cánh dài + 18, 27 cánh ngắn)

15. Voigtlander Super Wide-Heliar 15mm f/4.5 Aspherical III (10 cánh)

16. IRIX 15mm f/2.4 (18 cánh)

17. Tamron SP 15-30mm f/2.8 Di VC USD (18 cánh)

18. Fujifilm XF 16mm f/1.4 R WR (18 cánh)

19. Zeiss Hologon T* 16mm f/8 

20. Canon EF 16-35mm f/4L IS (18 cánh)

21. Canon EF 16-35mm f/2.8 L (14 cánh)

22. Nikon AF-S DX 16-85mm f/3.5-5.6G ED VR (14 cánh dài + 14 cánh ngắn)

23. Leica Super-Elmar-M 18mm f/3.8 ASPH (18 cánh)

24. Fujifilm XF 18-55mm f/2.8-4 R LM OIS (14 cánh)

25. Nikon AF-S DX NIKKOR 18-105mm f/3.5-5.6G ED VR (7 cánh dài + 21 cánh ngắn)

26. Zeiss Loxia 21mm f/2.8 (10 cánh)

27. Voigtlander Skopar 21mm f/4 (10 cánh)

28. Canon EF 24-70mm f/4L IS (18 cánh)

29. Canon EF 24-105mm f/4L IS USM (8 cánh)

30. Sigma DG HSM 35mm f/1.4 (18 cánh)

31. Samyang 35mm f/1.4 ED AS UMC AE (8 cánh)

1. Fujifilm XF 10-24mm R OIS

2. Canon EF 11-24mm f/4L USM

3. Samyang 12mm f/2 NCS CS

4. Samyang 12mm f/2.8 ED AS NCS II Fisheye

5. Nikon AI-S 15mm f/3.5

6. PENTAX-DA SMC 15mm F4 ED AL Limited

7. Sony SEL 16mm f/2.8

8. Zenitar 16mm f/2.8 Fisheye

9. Sony Vario-Sonnar T* 16-35mm F2.8 ZA SSM III

10. Canon EF 16-35mm f/2.8L II

11. Sony Vario-Tessar T* FE 16-35mm f/4 ZA OSS

12. Canon EF 17-40mm f/4L USM

13. Canon EF-S 17-55mm f/2.8 IS USM

14. Voigtlander Nokton 17.5mm f/0.95

15. Zeiss Batis FE 18mm f/2.8

16. Nikon AF-S 18-35mm f/3.5-4.5G ED

17. Sigma 18-35mm f/1.8 DC HSM Art

18. Canon EF-S 18-55mm f/3.5-5.6 IS II

19. Nikon AF-S DX 18-55mm f/3.5-5.6G ED II

20. Sigma DG HSM Art 20mm f/1.4

21. Nikon AF-S 20mm f/1.8G ED

22. Samyang 20mm f/1.8 ED AS UMC

23. Canon EF 20mm f/2.8 USM

24. Voigtlander 21mm f/1.8 Ultron

25. Zeiss Biogon T* 21mm f/2.8

26. Fujifilm XF 23mm f/1.4 R

27. Canon EF 24mm f/1.4 L

28. Sigma DG HSM Art 24mm f/1.4

29. Canon EF 24-70mm f/2.8L

30. Voigtlander 25mm f/0.95 m4/3

31. Zeiss Batis FE 25mm f/2

32. Zeiss Loxia 35mm f/2 Biogon T*

1. Samyang 8mm f/3.5 Aspherical IF MC

2. Canon EF 8-15mm f/4L FISHEYE USM

3. Sigma 8-16mm f/4.5-5.6 DC HSM

4. Voigtlander HELIAR-HYPER WIDE 10mm f/5.6

5. Tamron SP AF 10-24mm f/ 3.5-4.5 DI II

6. Voigtlander Nokton 10.5mm f/0.95

7. Sigma 12-24mm F4.5-5.6 II DG HSM

8. Panasonic Lumix G X Vario 12-35mm f/2.8 ASPH. POWER H-HS12035

9. Fujifilm XF 14mm f/2.8 R

10. Zeiss Distagon T* 15mm f/2.8 ZF.2

11. Sony E PZ 16-50mm f/3.5-5.6 OSS

12. Fujifilm XF 16-55mm f/2.8 R LM WR

13. Zeiss Distagon T* 18mm f/3.5 ZF.2

14. Sony E PZ 18-105mm f/4 G OSS

15. Sony DT 18-135mm f/3.5-5.6 SAM

16. Panasonic Lumix G 20mm f/1.7 ASPH

17. Canon nFD 20mm f/2.8

18. Carl Zeiss Jena Flektogon 20mm f/2.8

19. Voigtlander Color-Skopar 20mm f/3.5

20. Samyang 21mm f/1.4 ED AS UMC CS

21. Olympus OM-System G.Zuiko Auto-W 21mm f/3.5

22. Sony Sonnar T* E 24mm f/1.8 ZA

23. Voigtlander Color-Skopar 25mm f/4

24. Sigma Art 24-35mm f/2 DG HSM

25. Sony FE 24-70mm f/4 OSS

26. Fujifilm XF 27mm f/2.8 R

27. Sony FE 28mm f/2

28. Voigtlander 35mm f/1.2 ASPH

29. Sony SEL 35mm f/1.8 OSS

30. Carl Zeiss Jena Flektogon 35mm f/2.4

31. Nikon Series-E 50mm f/1.8

32. Leica Summilux 50mm f/1.4 ASPH

33. Sigma DG HSM Art 50mm f/1.4

< còn tiếp >
Dr. Fox
Bài viết do Dr. Fox thực hiện
Nghiêm cấm đăng lại trên các website hay ấn phẩm khác
*** Để có thể comment bằng Disqus, đầu tiên các bạn cần đăng nhập bằng Facebook bằng cách click vào biểu tượng Facebook ở dưới
Bài viết mới

Vsion.vn

By Vsion team 01 Nov, 2017
   Với người sử dụng máy ảnh Sony không gương lật ngàm E thì kho ống kính ngàm A của Sony / Minolta là một nguồn ống kính rất phong phú với giá cả phải chăng và chất lượng tốt. Vì thế khi phát triển hệ thống máy ảnh ngàm E thì Sony cũng thiết kế các ngàm chuyển để người dùng có thể sử dụng được ống kính ngàm A trên máy ảnh ngàm E. Hiện nay có 4 loại ngàm chuyển tên là LA-EA ( L ens A dapter for E -mount cameras to use  A - mount lenses) được phân biệt như sau:

  • LA-EA1 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A có motor trong (SSM và SAM); ống kính không có motor lấy nét (điều khiển qua ốc vít) của Minolta và một số ống kính của Sony chỉ có thể lấy nét tay chứ không AF được. Ngàm này không có kính mờ (translucent mirror) ở giữa.

  • LA-EA2 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A không có motor trong (điều khiển qua ốc vít). Ngàm này có sử dụng kính mờ ở giữa ngàm nên làm giảm 30% lượng ánh sáng đi qua ống kính. Để điều khiển lấy nét, ngàm có hệ thống motor lấy nét nằm trong ngàm và hoạt động độc lập với camera nên tốc độ lấy nét, số điểm lấy nét không phụ thuộc máy ảnh. Ngàm sử dụng 15 điểm lấy nét theo pha (PDAF) trong đó có 3 điểm là cross-type .

  • LA-EA3 : giống LA-EA1 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame (ống kính crop sẽ không bao phủ được toàn bộ cảm biến).

  • LA-EA4 : giống LA-EA2 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame. LA-EA4 hoạt động được với tất cả ống kính ngàm A của Minolta, Sony, Tamron, Sigma, ngoại trừ các ống kính Minolta AF Xi.
By Vsion team 31 Oct, 2017
   Vào những năm 1850, nhiếp ảnh đã trở nên phổ biến và đỡ tốn kém hơn với nhiều người. Đây cũng là nguyên do dẫn tới một trào lưu trong thời kỳ Victoria (thời kỳ trị vì của Nữ hoàng Anh quốc Victoria từ 1837 tới 1901) gọi là trào lưu chụp ảnh cùng người mới chết ( post-mortem photography ) khi người chết được chụp ảnh trong cùng album với những người thân thích trong gia đình. Dưới đây là 2 phút video tài liệu về trào lưu này được thực hiện bởi kênh HISTORY .

   Được biết tới với cái tên memento mori (nghĩa là " hãy nhớ là bạn phải chết " - " remember you must die "), trào lưu này ngày càng trở nên thịnh hành và ngay cả Nữ hoàng Victoria cũng ngủ dưới tấm hình người chồng quá cố của mình.
By Vsion team 30 Oct, 2017
   Sigma là tập đoàn sản xuất thiết bị ngành ảnh lâu đời của Nhật được ra đời vào năm 1961 bởi Michihiro Yamaki và ông cũng là CEO của công ty cho tới khi qua đời vào năm 2012. Vẫn được biết đến như một công ty sản xuất ống kính cho các hệ máy ảnh của các hãng lớn và phục vụ hệ máy ảnh của chính công ty mình, các ống kính của Sigma có thể hoạt động trên các máy ảnh DSLR của Canon, Nikon, Pentax thông qua quá trình thiết kế bắt chước phương thức lấy nét tự động (AF) của các loại máy ảnh này. Các ống kính của Sigma có chất lượng thường được xếp sau các ống kính "chính hãng" và có mức giá dễ chịu hơn.

   Vào năm 2013, sau khi Michihiro Yamaki mất, Sigma cũng bắt đầu một cuộc cách mạng mới được đánh dấu với sự ra đời của dòng ống kính Global Vision với các ống kính được nâng cấp từ các ống kính hãng đã từng chế tạo theo tiêu chuẩn cao và nghiên cứu phát triển những ống kính mới chưa từng xuất hiện trên thị trường. Một điểm đặc biệt nữa của các ống kính Global Vision là Sigma lần đầu tiên nhận thay ngàm cho các ống kính này nếu người sử dụng có nhu cầu đổi hệ máy mà không muốn đổi ống kính. Ngoài ra, các ống kính Global Vision đều tương thích với Sigma USB Dock là một thiết bị kết nối trực tiếp với ống kính thông qua ngàm tương thích và điều khiển thông qua máy vi tính để cân chỉnh khả năng focus của ống kính, giúp người dùng có thể tự điều chỉnh ống kính khi độ chính xác chưa được như mong muốn.
By Vsion team 27 Oct, 2017
   Sau 2 năm rưỡi kể từ ngày Sony công bố A7R mark II (tháng 6 năm 2015), ngày hôm qua Sony đã chính thức công bố thế hệ thứ ba của chiếc máy ảnh full frame không gương lật cao cấp này. Trái với thứ tự ưu tiên công bố, thay vì công bố máy A7 dòng R (High Resolution - độ phân giải cao) sau A7 thì lần này Sony công bố A7R mark III  (hay A7RIII ) đầu tiên trong series mới. Động thái này có thể là lời đáp trả của Sony với sự kiện Nikon công bố máy ảnh full frame DSLR thế hệ mới D850 hồi tháng 4. Đây là một bất ngờ lớn với cộng đồng nhiếp ảnh vì những thông tin gần đây nhất có được đều hướng về A7 mark III. So với A7RII thì A7RIII có nhiều nâng cấp nhỏ thay vì cải tiến đột phá về công nghệ, thế nên chúng ta hãy nhìn vào chi tiết các tính năng và đặc điểm mới của chiếc máy này xem nó có phải một phiên bản tốt hơn hẳn thế hệ trước hay không.

   Bài viết này của Vsion chỉ tập trung phân tích các đặc tính được công bố của hãng cùng thông tin bổ sung từ các reviewer nên chúng ta vẫn cẩn xác nhận lại khi chiếc máy ảnh này đến tay người dùng. Cuối bài viết, chúng tôi cũng cung cấp bảng so sánh chi tiết A7RIII so với A7RII và Nikon D850 để bạn đọc có thể có cái nhìn đầy đủ về mối tương quan của chiếc máy ảnh này với hai lựa chọn gần với nó trên thị trường.
By Vsion team 18 Oct, 2017
   Chắc hẳn sẽ có lúc nào đó trong chuỗi ngày cầm máy ảnh, bạn sẽ thấy bí bách với những tấm ảnh mình thường chụp, với mức độ "xóa phông" của ống kính mình hay dùng, với những câu hỏi căn bản như ảnh của mình có lấy đúng nét hay không, bokeh có mịn màng không... Hoặc bạn sẽ thấy ống kính của mình rất giới hạn ở khả năng chụp gần, không tạo hiệu ứng 3D, khó tạo điểm nhấn đặc biệt... Nếu bạn gặp phải những chuyện này thì đó là chuyện hoàn toàn bình thường và rất dễ gặp khi chúng ta bị gò bò trong cách sử dụng các thiết bị các bạn đang có trong tay. Khi bắt đầu loạt bài viết Vượt qua giới hạn thiết bị , mình có suy nghĩ là muốn giới thiệu với các bạn những cách tiếp cận để tăng hiệu quả quang học của thiết bị và làm tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí quang học như đạt DOF mỏng hơn giới hạn, khử noise tốt hơn khả năng của máy, tuy nhiên một tấm ảnh đẹp không nhất thiết phải là một tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí chất lượng hình ảnh. Nếu như hai bài viết trước giúp các bạn phần nào cải thiện giới hạn trên của các thiết bị, trong bài viết thứ ba này mình muốn giới thiệu tới các bạn cách để vượt qua... giới hạn dưới của ống kính. Freelensing là tên của kỹ thuật nhiếp ảnh (hay lens whacking trong quay phim) giúp chúng ta gỡ bỏ những ràng buộc của ống kính và máy ảnh, làm tấm ảnh bộc lộ rõ những "điểm yếu về quang học" mà chúng ta thường tránh như hiện tượng lệch mặt phẳng nét, giảm độ nét hay bị light leak và flare khắp mọi nơi, nhưng đó mới là những thứ chúng ta cần khai thác để tạo ra những tấm ảnh có phong cách mới lạ và sáng tạo.

   Đầu tiên, mời các bạn xem video dưới đây do tác giả James Miller thực hiện hoàn toàn bằng phương pháp lens whacking để hiểu được hiệu ứng chúng ta sẽ đạt được bằng phương pháp này.
By Vsion team 13 Oct, 2017
   Ngày nay khá nhiều người mới tập sử dụng máy ảnh với ống kính AF có thể ngạc nhiên khi nhắc tới khái niệm lỗ khẩu hay lá khẩu, và khái niệm khẩu độ chỉ thể hiện bằng con số có thể điều chỉnh trên máy ảnh. Lý do là hiện nay máy ảnh đã được thiết kế để người dùng không phải điều chỉnh khẩu độ bằng tay thông qua cơ chế cơ học nữa (tuy nhiên vẫn có những loại ống kính cho phép điều khiển vòng khẩu độ mặc dù nó được điều khiển điện) và lá khẩu chỉ đóng rất nhanh khi chụp ảnh. Vì thế nên nếu các bạn không để ý, cũng dễ hiểu khi các bạn chưa từng nhìn thấy hình dạng cái lỗ khẩu nó ra làm sao.

   Vai trò của lỗ khẩu là một vị trí trong ống kính có thể điều khiển diện tích thông qua việc đóng, mở các lá khẩu và thay đổi lượng ánh sáng đi qua ống kính, từ đó giúp bạn điều chỉnh độ sâu trường ảnh, độ nét, mức độ sáng của hình. Trong thời kỳ ống kính chưa có hệ thống motor điều khiển lấy nét tự động thì các ống kính nhiếp ảnh đều có vòng khẩu độ nằm trước hoặc nằm sau vòng lấy nét để giúp bạn điều chỉnh giá trị f-stop. Do việc điều chỉnh khẩu độ hoàn toàn là cơ học nên một thao tác quan trọng khi dùng máy film để lấy nét là bạn mở vòng khẩu độ ra hết cỡ để lấy nhiều ánh sáng nhất có thể (nếu không viewfinder sẽ tối), sau đó lấy nét vào điểm mong muốn rồi mới hạ vòng khẩu độ này xuống giá trị f-stop bạn cần để chụp. Để phục vụ cho nhu cầu này, nhiều ống kính lấy nét tay (MF) có thêm một vòng khẩu độ nữa, có tác dụng giới hạn vòng khẩu độ thứ hai. Đây gọi là các ống kính pre-set (xác lập trước) mà khi sử dụng bạn cần chỉnh một vòng khẩu độ đến giá trị mong muốn, sau đó vặn vòng khẩu độ thứ hai di chuyển rất nhanh giữa vị trí mở khẩu độ lớn nhất và vị trí bạn đã xác lập trước mà không cần phải nhìn lại thân ống kính.
More Posts
Share by: