Quick review - Fujifilm XF 35mm f/1.4 R vs 35mm f/2 WR

  • By Vsion team
  • 21 Jan, 2017

   Đối với người dùng Fuji, nhất là người mới bắt đầu, đây chắc chắn là một vấn đề được rất nhiều người quan tâm. Ra mắt từ tháng 1/2012, XF 35mm f/1.4 là một trong những đóng góp quan trọng giúp Fujifilm chiếm được cảm tình của phần đông người dùng cho đến thời điểm hiện tại. Tiêu cự "cơ bản", chất lượng quang học xuất sắc, thật khó có thể chê trách được gì nhiều về ống kính này. Cho đến tháng 2/2015, Fujifilm 35mm f2 R WR ra mắt, với nhiều đặc điểm nổi trội hơn như khả năng chống chịu thời tiết, nhỏ gọn và khả năng lấy nét nhanh, Fujifilm đã cho người dùng thêm một lựa chọn đối với tiêu cự 35mm, đồng thời cũng đặt ra một câu hỏi lớn: nếu bỏ qua tất cả những yếu tố phụ trội đối với việc chụp ảnh, như tốc độ lấy nét, kích cỡ, thì "chất lượng quang học" của ống kính nào xuất sắc hơn?

   Sau đây là một bài so sánh nhanh được thực hiện đối với 2 ống kính này. Trên quan điểm của người viết, kết quả thể hiện ở đây là khá rõ ràng, cụ thể, và sự khác biệt giữa 2 ống kính có thể dễ dàng nhận ra và không đến mức "sát nhau" như nhiều đánh giá trên mạng đã so sánh. Hy vọng bài so sánh này sẽ là một cơ sở để cho người dùng Fujifilm có thể bớt băn khoăn hơn và chọn được ống kính phù hợp với nhu cầu của bản thân hơn.

   A. CÁCH THỨC SO SÁNH

  • 2 ống kính lần lượt được lắp trên body Fujifilm X-T2. Máy ảnh được gắn cố định trên tripod khi chụp tất cả các bối cảnh. Mỗi tình huống đều chụp hẹn giờ 2s, lần lượt bằng cả 2 ống kính.
  • Thông số setting giống nhau: All default, f/2 - ISO 400 - 1/320s, AF-S ở center, kích thước ô lấy nét nhỏ nhất. Riêng tình huống tối quá trong gara thì set tốc độ 1/8s.
  • File ảnh sau khi chụp được copy ra laptop màn hình Full HD 18" IPS Alienware, zoom và pan để soi ở độ phóng đại 100% khá kỹ càng.
  • Người viết có mời thêm 2 designers đánh giá "mù" (không nói ảnh nào do ống kính nào chụp ra) để có được nhận xét khách quan hơn.
  • Một số ảnh có thể hơi dư sáng hoặc thiếu sáng một chút thì người viết không thay đổi tốc độ để cho các thiết lập nhất quán.

     B. ẢNH CỤ THỂ

 ​1. Nhóm 1: gồm 9 cặp ảnh, được crop 100% ở trung tâm (cũng là điểm AF), bên trái và f1.4 bên phải f2, để mọi người so độ sáng, màu sắc và chi tiết vùng ảnh quan trọng nhất

2. Nhóm 2 là 18 ảnh đơn lẻ để mọi người nhìn toàn cảnh của 9 tình huống chụp.
Fujifilm XF 35mm f/1.4 R
Fujifilm XF 35mm f/2 WR
Fujifilm XF 35mm f/1.4 R
Fujifilm XF 35mm f/2 WR
Fujifilm XF 35mm f/1.4 R
Fujifilm XF 35mm f/2 WR
Fujifilm XF 35mm f/1.4 R
Fujifilm XF 35mm f/2 WR
Fujifilm XF 35mm f/1.4 R
Fujifilm XF 35mm f/2 WR
Fujifilm XF 35mm f/1.4 R
Fujifilm XF 35mm f/1.4 R
Fujifilm XF 35mm f/2 WR
Fujifilm XF 35mm f/1.4 R
Fujifilm XF 35mm f/2 WR
Fujifilm XF 35mm f/1.4 R
Fujifilm XF 35mm f/2 WR
Fujifilm XF 35mm f/1.4 R
Fujifilm XF 35mm f/2 WR

3. Nhóm 3 là 9 cặp ảnh mở từng đôi (ảnh chụp màn hình) bên trái là ống kính 1.4 còn bên phải là ống kính f2, crop 100% ở vùng ngoại vi nào đó mà người viết nhận thấy có sự khác biệt đáng kể và rõ ràng.

   C. KẾT LUẬN : (Dưới đây là kết luận dựa trên quan điểm của người viết, mỗi người đọc có thể có những kết luận cho riêng mình sau khi xem những bức ảnh trên)

1. Về độ nét: F2 hơn 1.4 kha khá, càng ra rìa ảnh hoặc đối tượng nhiều chi tiết phức tạp thì f2 càng tỏ rõ ưu điểm nét hơn f1.4.

2. Về độ no màu: F2 hơn 1.4 tương đối, màu đậm đà hơn, nhìn đã mắt hơn. F1.4 thiên về tông nóng, ám hồng thấy rõ so với f2 màu trung tính và thật hơn.

3. Về độ nổi khối: F2 cũng "vờn khối" đối tượng nhìn 3D hơn, đặc biệt các vùng chuyển đường cong, vùng highlight, nhận sáng cực mạnh.

4. Về độ sáng của ảnh: F2 có vẻ tối hơn 1 chút chút (có lẽ do cùng khẩu nhưng ở f2, lượng ánh sáng vào ít hơn do cấu tạo thấu kính).

5. Về độ chuyển mượt: F2 chuyển tiếp các vùng ảnh một cách mượt mà hơn.

6. Về chụp ngược sáng: F2 hơn hẳn, ít viền tím và viền xanh hơn. Các đối tượng mảnh nhỏ vẫn rõ nét và không bị ám (Xem ảnh cuối cùng rõ nhất).

7. Về bokeh: F1.4 có xu hướng xóa vùng hậu cảnh mạnh hơn và vùng background sáng hơn, nên bokeh nhòe mờ hơn f2 nhưng f2 lại có chút cảm giác êm thuận và ảnh có chiều sâu hơn.

8. Về tốc độ lấy nét: F2 hơn chút ít không đáng kể trên body X-T2 ngoài trời sáng nhưng nhanh hơn hẳn f1.4 trên X-T1 hoặc lúc chụp thiếu sáng.

9. Về hình thức: F2 bé tý xíu, bé hơn tưởng tượng và hình thức có lẽ là "kém nhất" trong tất cả các ống kính của Fujifilm trên quan điểm của người viết.

10. Về build: Cầm f2 cảm giác hoàn thiện tốt hơn, đầm chắc hơn, đi kèm là khả năng chịu thời tiết tốt hơn 1.4 nhiều (có WR chịu được bụi và chút mưa nhỏ).

   D. VẬY LỰA CHỌN NÀO HỢP LÝ HƠN?

   Bạn nên chọn 35f2 khi cần tốc độ AF nhanh, chụp nhiều tình huống khó (tối), thích ảnh no màu, chi tiết tốt, chụp ngược sáng tốt, chịu được tý nước và bụi,.. và chấp nhận hình thức lens xấu nhưng yêu cầu khắt khe về ảnh!

   Bạn nên chọn 35f1.4 khi chủ yếu chụp đủ sáng, trên body đời cao như X-T2 và X-Pro2, cần chân dung xoá phông mạnh, thích tone màu nhạt nhưng hơi ám đỏ nhẹ và coi combo như một phụ kiện thời trang, cần hình thức đẹp!

  Bàn thêm một chút về lợi thế của ống kính khẩu lớn khi chụp trong điều kiện ánh sáng yếu. Người viết đã trải nghiệm 1 số óng kính khẩu lớn của Fuji (35/1.4, 23/1.4, 56/1.2) thì nhận thấy thực tế không "màu hồng" như lý thuyết. Lợi thế của ống kính khẩu lớn so với khẩu nhỏ chỉ thực sự đúng và trọn vẹn khi khả năng AF của 2 ống kính trong ánh sáng yếu là ngang ngửa nhau. Còn khi 1 ống kính khẩu lớn nhưng AF kém hơn kha khá, thì sẽ dẫn đến mấy trường hợp như sau khi chụp ở điều kiện ánh sáng yếu (yếu so với máy ảnh chứ không phải so với mắt người):

1. Nếu chụp cảnh "chết", tĩnh vật, người đứng im được như tượng: Lúc này 1.4 AF chậm và hunting nhưng không sao, mãi rồi cũng nét. Nhưng đã "tĩnh" thì bạn hoàn toàn có thể giảm tốc độ body gắn f2 xuống 1 stop. Cùng lắm thì bạn tăng iso lên (Fuji tăng iso không vấn đề lắm).

   Xin lưu ý: Có một vài người dùng nhầm 2 ống kính này chênh nhau 3 stops (1,4-1,6-1,8-2,0).

   Lúc này chủ thể đứng im nên đủ nét, đủ sáng. Nếu hậu cảnh tĩnh hoàn toàn thì không cần bàn. Nếu hậu cảnh có vật chuyển động, giảm tốc 1 stops sẽ làm những vật đó mờ nhòe thêm 1 chút, nhưng đang chụp 35mm ở max khẩu nên nhòe thêm tý cũng vẫn vậy thôi, quan trọng chủ thể nét.

2. Nếu chụp người di chuyển (trẻ con chơi, hát hò, đi lại): Lúc này 1.4 lợi khẩu nhưng AF trượt nhiều, ảnh out nét chiếm tỷ lệ khá cao, nếu có AF trúng thì ảnh cũng không nét bằng f2. Vậy, nếu phải lựa chọn giữa [1] lens f1.4 iso thấp hơn tý nhưng ảnh out nhẹ hoặc không xài được, với [2] lens f2 iso cao hơn nhưng focus trúng 98-99%, người viết vẫn chọn [2]. Rõ ràng ảnh noise còn xử lý được chứ ảnh out net thì rất khó cứu!

   Đó là 2 trường hợp phổ biến khi người viết đi chụp thiếu sáng (phố đi bộ, trong quán xá buổi tối, event,..), còn những trường hợp đặc thù hơn của những người sử dụng khác thì người viết chưa có kinh nghiệm. Đây là những trải nghiệm thực tế, khi gắn 2 ống kính trên 2 body, chụp cùng lúc gần như đồng thời, cùng lúc với nhau.

   Cá nhân người viết đã chọn F2 dù trong suy nghĩ luôn tìm mọi lý do để bao che cho 1.4. Nếu cho điểm f2 được 10 thì f1.4 được 9,69 điểm. Kết quả test hoàn toàn phản ánh quan điểm cá nhân và hy vọng cũng sẽ là những cơ sở hợp lý để cho người dùng có sự lựa chọn chính xác hơn cho bản thân.

Hà Quang Hùng
Bài đánh giá do Hà Quang Hùng thực hiện
Không sử dụng lại bài viết trên các trang web khác nếu không được sự đồng ý của tác giả
*** Để có thể comment bằng Disqus, đầu tiên các bạn cần đăng nhập bằng Facebook bằng cách click vào biểu tượng Facebook ở dưới
Bài viết mới

Vsion.vn

By Vsion team 01 Nov, 2017
   Với người sử dụng máy ảnh Sony không gương lật ngàm E thì kho ống kính ngàm A của Sony / Minolta là một nguồn ống kính rất phong phú với giá cả phải chăng và chất lượng tốt. Vì thế khi phát triển hệ thống máy ảnh ngàm E thì Sony cũng thiết kế các ngàm chuyển để người dùng có thể sử dụng được ống kính ngàm A trên máy ảnh ngàm E. Hiện nay có 4 loại ngàm chuyển tên là LA-EA ( L ens A dapter for E -mount cameras to use  A - mount lenses) được phân biệt như sau:

  • LA-EA1 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A có motor trong (SSM và SAM); ống kính không có motor lấy nét (điều khiển qua ốc vít) của Minolta và một số ống kính của Sony chỉ có thể lấy nét tay chứ không AF được. Ngàm này không có kính mờ (translucent mirror) ở giữa.

  • LA-EA2 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A không có motor trong (điều khiển qua ốc vít). Ngàm này có sử dụng kính mờ ở giữa ngàm nên làm giảm 30% lượng ánh sáng đi qua ống kính. Để điều khiển lấy nét, ngàm có hệ thống motor lấy nét nằm trong ngàm và hoạt động độc lập với camera nên tốc độ lấy nét, số điểm lấy nét không phụ thuộc máy ảnh. Ngàm sử dụng 15 điểm lấy nét theo pha (PDAF) trong đó có 3 điểm là cross-type .

  • LA-EA3 : giống LA-EA1 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame (ống kính crop sẽ không bao phủ được toàn bộ cảm biến).

  • LA-EA4 : giống LA-EA2 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame. LA-EA4 hoạt động được với tất cả ống kính ngàm A của Minolta, Sony, Tamron, Sigma, ngoại trừ các ống kính Minolta AF Xi.
By Vsion team 31 Oct, 2017
   Vào những năm 1850, nhiếp ảnh đã trở nên phổ biến và đỡ tốn kém hơn với nhiều người. Đây cũng là nguyên do dẫn tới một trào lưu trong thời kỳ Victoria (thời kỳ trị vì của Nữ hoàng Anh quốc Victoria từ 1837 tới 1901) gọi là trào lưu chụp ảnh cùng người mới chết ( post-mortem photography ) khi người chết được chụp ảnh trong cùng album với những người thân thích trong gia đình. Dưới đây là 2 phút video tài liệu về trào lưu này được thực hiện bởi kênh HISTORY .

   Được biết tới với cái tên memento mori (nghĩa là " hãy nhớ là bạn phải chết " - " remember you must die "), trào lưu này ngày càng trở nên thịnh hành và ngay cả Nữ hoàng Victoria cũng ngủ dưới tấm hình người chồng quá cố của mình.
By Vsion team 30 Oct, 2017
   Sigma là tập đoàn sản xuất thiết bị ngành ảnh lâu đời của Nhật được ra đời vào năm 1961 bởi Michihiro Yamaki và ông cũng là CEO của công ty cho tới khi qua đời vào năm 2012. Vẫn được biết đến như một công ty sản xuất ống kính cho các hệ máy ảnh của các hãng lớn và phục vụ hệ máy ảnh của chính công ty mình, các ống kính của Sigma có thể hoạt động trên các máy ảnh DSLR của Canon, Nikon, Pentax thông qua quá trình thiết kế bắt chước phương thức lấy nét tự động (AF) của các loại máy ảnh này. Các ống kính của Sigma có chất lượng thường được xếp sau các ống kính "chính hãng" và có mức giá dễ chịu hơn.

   Vào năm 2013, sau khi Michihiro Yamaki mất, Sigma cũng bắt đầu một cuộc cách mạng mới được đánh dấu với sự ra đời của dòng ống kính Global Vision với các ống kính được nâng cấp từ các ống kính hãng đã từng chế tạo theo tiêu chuẩn cao và nghiên cứu phát triển những ống kính mới chưa từng xuất hiện trên thị trường. Một điểm đặc biệt nữa của các ống kính Global Vision là Sigma lần đầu tiên nhận thay ngàm cho các ống kính này nếu người sử dụng có nhu cầu đổi hệ máy mà không muốn đổi ống kính. Ngoài ra, các ống kính Global Vision đều tương thích với Sigma USB Dock là một thiết bị kết nối trực tiếp với ống kính thông qua ngàm tương thích và điều khiển thông qua máy vi tính để cân chỉnh khả năng focus của ống kính, giúp người dùng có thể tự điều chỉnh ống kính khi độ chính xác chưa được như mong muốn.
By Vsion team 27 Oct, 2017
   Sau 2 năm rưỡi kể từ ngày Sony công bố A7R mark II (tháng 6 năm 2015), ngày hôm qua Sony đã chính thức công bố thế hệ thứ ba của chiếc máy ảnh full frame không gương lật cao cấp này. Trái với thứ tự ưu tiên công bố, thay vì công bố máy A7 dòng R (High Resolution - độ phân giải cao) sau A7 thì lần này Sony công bố A7R mark III  (hay A7RIII ) đầu tiên trong series mới. Động thái này có thể là lời đáp trả của Sony với sự kiện Nikon công bố máy ảnh full frame DSLR thế hệ mới D850 hồi tháng 4. Đây là một bất ngờ lớn với cộng đồng nhiếp ảnh vì những thông tin gần đây nhất có được đều hướng về A7 mark III. So với A7RII thì A7RIII có nhiều nâng cấp nhỏ thay vì cải tiến đột phá về công nghệ, thế nên chúng ta hãy nhìn vào chi tiết các tính năng và đặc điểm mới của chiếc máy này xem nó có phải một phiên bản tốt hơn hẳn thế hệ trước hay không.

   Bài viết này của Vsion chỉ tập trung phân tích các đặc tính được công bố của hãng cùng thông tin bổ sung từ các reviewer nên chúng ta vẫn cẩn xác nhận lại khi chiếc máy ảnh này đến tay người dùng. Cuối bài viết, chúng tôi cũng cung cấp bảng so sánh chi tiết A7RIII so với A7RII và Nikon D850 để bạn đọc có thể có cái nhìn đầy đủ về mối tương quan của chiếc máy ảnh này với hai lựa chọn gần với nó trên thị trường.
By Vsion team 18 Oct, 2017
   Chắc hẳn sẽ có lúc nào đó trong chuỗi ngày cầm máy ảnh, bạn sẽ thấy bí bách với những tấm ảnh mình thường chụp, với mức độ "xóa phông" của ống kính mình hay dùng, với những câu hỏi căn bản như ảnh của mình có lấy đúng nét hay không, bokeh có mịn màng không... Hoặc bạn sẽ thấy ống kính của mình rất giới hạn ở khả năng chụp gần, không tạo hiệu ứng 3D, khó tạo điểm nhấn đặc biệt... Nếu bạn gặp phải những chuyện này thì đó là chuyện hoàn toàn bình thường và rất dễ gặp khi chúng ta bị gò bò trong cách sử dụng các thiết bị các bạn đang có trong tay. Khi bắt đầu loạt bài viết Vượt qua giới hạn thiết bị , mình có suy nghĩ là muốn giới thiệu với các bạn những cách tiếp cận để tăng hiệu quả quang học của thiết bị và làm tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí quang học như đạt DOF mỏng hơn giới hạn, khử noise tốt hơn khả năng của máy, tuy nhiên một tấm ảnh đẹp không nhất thiết phải là một tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí chất lượng hình ảnh. Nếu như hai bài viết trước giúp các bạn phần nào cải thiện giới hạn trên của các thiết bị, trong bài viết thứ ba này mình muốn giới thiệu tới các bạn cách để vượt qua... giới hạn dưới của ống kính. Freelensing là tên của kỹ thuật nhiếp ảnh (hay lens whacking trong quay phim) giúp chúng ta gỡ bỏ những ràng buộc của ống kính và máy ảnh, làm tấm ảnh bộc lộ rõ những "điểm yếu về quang học" mà chúng ta thường tránh như hiện tượng lệch mặt phẳng nét, giảm độ nét hay bị light leak và flare khắp mọi nơi, nhưng đó mới là những thứ chúng ta cần khai thác để tạo ra những tấm ảnh có phong cách mới lạ và sáng tạo.

   Đầu tiên, mời các bạn xem video dưới đây do tác giả James Miller thực hiện hoàn toàn bằng phương pháp lens whacking để hiểu được hiệu ứng chúng ta sẽ đạt được bằng phương pháp này.
By Vsion team 13 Oct, 2017
   Ngày nay khá nhiều người mới tập sử dụng máy ảnh với ống kính AF có thể ngạc nhiên khi nhắc tới khái niệm lỗ khẩu hay lá khẩu, và khái niệm khẩu độ chỉ thể hiện bằng con số có thể điều chỉnh trên máy ảnh. Lý do là hiện nay máy ảnh đã được thiết kế để người dùng không phải điều chỉnh khẩu độ bằng tay thông qua cơ chế cơ học nữa (tuy nhiên vẫn có những loại ống kính cho phép điều khiển vòng khẩu độ mặc dù nó được điều khiển điện) và lá khẩu chỉ đóng rất nhanh khi chụp ảnh. Vì thế nên nếu các bạn không để ý, cũng dễ hiểu khi các bạn chưa từng nhìn thấy hình dạng cái lỗ khẩu nó ra làm sao.

   Vai trò của lỗ khẩu là một vị trí trong ống kính có thể điều khiển diện tích thông qua việc đóng, mở các lá khẩu và thay đổi lượng ánh sáng đi qua ống kính, từ đó giúp bạn điều chỉnh độ sâu trường ảnh, độ nét, mức độ sáng của hình. Trong thời kỳ ống kính chưa có hệ thống motor điều khiển lấy nét tự động thì các ống kính nhiếp ảnh đều có vòng khẩu độ nằm trước hoặc nằm sau vòng lấy nét để giúp bạn điều chỉnh giá trị f-stop. Do việc điều chỉnh khẩu độ hoàn toàn là cơ học nên một thao tác quan trọng khi dùng máy film để lấy nét là bạn mở vòng khẩu độ ra hết cỡ để lấy nhiều ánh sáng nhất có thể (nếu không viewfinder sẽ tối), sau đó lấy nét vào điểm mong muốn rồi mới hạ vòng khẩu độ này xuống giá trị f-stop bạn cần để chụp. Để phục vụ cho nhu cầu này, nhiều ống kính lấy nét tay (MF) có thêm một vòng khẩu độ nữa, có tác dụng giới hạn vòng khẩu độ thứ hai. Đây gọi là các ống kính pre-set (xác lập trước) mà khi sử dụng bạn cần chỉnh một vòng khẩu độ đến giá trị mong muốn, sau đó vặn vòng khẩu độ thứ hai di chuyển rất nhanh giữa vị trí mở khẩu độ lớn nhất và vị trí bạn đã xác lập trước mà không cần phải nhìn lại thân ống kính.
More Posts
Share by: