A7S vs Fuji X-T1 vs OM-D E-M1! Cuộc chiến của các cảm biến

  • By Vsion team
  • 08 Jan, 2017

   Đây là một bài so sánh đã cũ của Steve Huff nhưng rất hay và đáng để tham khảo, tóm lược những điểm mạnh, điểm yếu của 3 hệ cảm biến, 3 nhãn hiệu máy ảnh không gương lật đình đám trên thị trường hiện tại. Đây là cuộc đấu giữa Olympus OM-D E-M1, Fujifilm X-T1 và Sony A7s, cuộc đấu của cảm biến Micro 4/3, APS-C và Full Frame. Tuy nhiên, xin lưu ý rằng kết quả từ mỗi khía cạnh so sánh đều là ý kiến chủ quan của Steve Huff, hãy dùng chính những bức ảnh bạn thấy trong bài viết này để tham khảo và đưa ra cảm nhận từ chính bản thân mình.

   Độ nét, chống rung, màu sắc, chi tiết, ảnh B&W, ISO sẽ là những tiêu chí đánh giá trong bài viết này.

  • Steve để cho camera tự đo sáng, sử dụng AWB.
  • Steve tự chọn khẩu độ trên mỗi camera để có được độ sâu trường ảnh tương đồng khi so sánh một số tiêu chí.
  • Tripod được sử dụng để đem lại sự tương đồng về vị trí, góc nhìn và loại bỏ ảnh hưởng từ việc chụp tay.
  • Các bức ảnh được convert trực tiếp từ file RAW, sử dụng Adobe Camera RAW.
  • E-M1 sử dụng ống kính Panasonic Leica 25mm f/1.4, Fuji X-T1 sử dụng 35mm f/1.4 và Sony A7S sử dụng CZ 55mm f/1.8.
  • Sony A7S được sử dụng chứ không phải A7ii hay A7. A7S có cảm biến 12mp, gần với cảm biến của Fuji và Olympus hơn, tuy nhiên nó cũng sẽ giới hạn khả năng của A7S trong một số trường hợp. 

    Chụp cầm tay với tốc 1/60, đánh giá chất lượng ảnh tổng quát.

    Steve lựa chọn camera có chất lượng ảnh tổng thể tốt nhất ở 1/60 là Olympus E-M1, lấy độ nét và màu sắc làm tiêu chí.

   Lý do E-M1 thắng trong bài test này do Steve đưa ra là nhờ hệ thống chống rung 5 trục, Steve có thể chụp tốt trong điều kiện ánh sáng yếu hơn với mức ISO thấp. 2 hệ máy còn lại phải đẩy ISO lên một chút.

   Chụp bằng Tripod, so sánh chi tiết trong ảnh – Chụp tại cùng khẩu độ

    Một lần nữa Steve lại chọn Olympus là kẻ chiến thắng.

   3 camera được chụp tại F4. Đây là một bài test so sánh chi tiết chứ không so sánh về DOF nên tất cả được đặt tại cùng khẩu độ, chụp với một mặt phẳng. Giá trị ISO là 200. Tất cả được chụp trên tripod tại cùng một vị trí.

   Chụp tại khẩu độ lớn nhất – So sánh DOF

   Đương nhiên Fullframe sẽ dễ dàng chiến thắng ở hạng mục này. Tuy nhiên, một số người sẽ thích DOF dày hơn một chút như với cảm biến Micro 4/3 và APS-C mà vẫn giữ được tốc độ chụp cần thiết. Hơn nữa, với Fullframe bạn sẽ khó lấy nét chuẩn hơn khi DOF quá mỏng. Tuy nhiên, nếu chụp chính xác, vẻ đẹp từ Fullframe là không thể bàn cãi.

   Xin các bạn lưu ý ở đây. Trên quan điểm của Steve chia sẻ, việc có DOF mỏng không phải do ảnh hưởng từ cảm biến lớn hay nhỏ mà là do tiêu cự ống kính. Ống kính có tiêu cự càng dài thì DOF càng mỏng. Olympus có tiêu cự 25mm, Fuji là 35mm và Sony là 55mm. Tất cả đều cho cùng một góc nhìn, nhưng mỗi ống kính có một hiệu ứng tiêu cự về DOF khác nhau, đó là lý do bạn thấy Sony có DOF mỏng hơn. Còn sự khác biệt về DOF giữa Fuji và Olympus là không đáng kể.

    Ảnh B&W

   Với bài test này, Steve chụp ảnh màu trước rồi mới chuyển sang B&W sử dụng preset Alien Skin B&W.

   Đối với Steve, Olympus lại một lần nữa chiếm được thiện cảm lớn nhất. Trên quan điểm của ông, ảnh B&W từ Olympus gần với ảnh từ Leica Monochrom nhiều nhất. Nhiều tông xám, và có các chi tiết tại vùng đen nhiều hơn. Fuji đứng thứ 2 trong bài test này và Sony thứ 3. Olympus cho nhiều tông xám nhất ở đây.

   Thêm một trường hợp so sánh nữa. Olympus vẫn chiến thắng theo quan điểm của Steve nhưng 2 camera còn lại cũng không kém. Olympus cho ra nhiều chi tiết nhất trong bức ảnh này.

   Màu sắc

   Tất cả các bức ảnh đều được convert từ RAW và không bị ảnh hưởng bởi cài đặt trên camera. Các bức ảnh được chụp ngoài trời với ánh nắng trực tiếp.

   Ví dụ đầu tiên là về sự chính xác của màu sắc. Steve cho biết, khi nhìn trên thực tế hộp bút chì màu và nhìn vào trong các bức ảnh, Sony cho ra màu thật nhất, Olympus xếp thứ 2 và Fuji thứ 3.

   Một ví dụ khác, lần này phần thắng thuộc về Fuji, Olympus xếp ngay sau. Ảnh từ Sony hơi bị ám vàng trong trường hợp này.
   Ví dụ cuối, chụp trên bãi cỏ vào buổi sáng. Lần này thì màu sắc, ánh sáng và highlight của Olympus được Steve lựa chọn. Fuji xếp thứ 2.

   Chụp chân dung

   Trong bài test này Steve lại lựa chọn Olympus. Theo Steve, AWB của Sony khá tệ ở đây khi cho ra tông màu hơi lạnh. Fuji cho ra màu sắc có phần "hơi quá" và "hoàn toàn sai màu".

   Các bức ảnh được chuyển sang B&W sử dụng preset VSCO T-Max. Fuji có độ tương phản tốt nhất, đẹp hơn ảnh màu rất nhiều. Olympus vẫn khá ổn và có phần trung tính, ảnh từ Sony cũng rất đẹp. 3 hệ cảm biến khác nhau nhưng kết quả ra thì không khác nhau là mấy.

   Dynamic Range

   Độ nhạy sáng (Dynamic Range) từ cả 3 camera là tốt. Olympus E-M1 có độ nhạy sáng tương đối ngang ngửa với Fuji X-T1, khoảng 12.7 stop DR. File RAW của Fuji có thể hậu kỳ trong khoảng từ 9 đến 13 stop DR, Sony có 13.2 stop. Olympus thể hiện rất ấn tượng nếu so với kích cỡ cảm biến của mình. Nhưng trên thực tế, Fullframe chắc chắn vẫn sẽ có ưu thế hơn hẳn. Phía dưới là một ví dụ về vùng highlight bị cháy sáng, Steve đã cứu lại vùng highlight trên từng camera. Sony thể hiện tốt nhất ở đây.

   Chụp trong điều kiện ánh sáng yếu, ISO cao

   Chắc chắn Sony sẽ dành phần thắng, không có nghi ngờ gì cả. Một điều thú vị Steve cho biết là Olympus cho ra nhiều chi tiết nhất ở ISO cao. Fuji thì lại cho ảnh kém chi tiết nhất, có lẽ là do chế độ NR tự động của Fuji, bạn không thể tắt đi hay can thiệp được, kể cả trên file RAW. Lưu ý là chế độ NR được tắt trên tất cả các máy.

   Trong trường hợp này, Fuji có vẻ cho ra kết quả tốt hơn cả A7S, nhưng nên nhớ A7S có thể đặt ISO lên đến 102,000. Kể cả chụp tại ISO 32,000 Sony A7S cũng cho ra kết quả rất tốt. Fuji và Olympus chắc chắn không làm được.

   KẾT LUẬN

   Mọi người vẫn luôn nghi ngờ khả năng của cảm biến Micro 4/3 nhưng rõ ràng kết quả của những bài test là rất thú vị. Xin lưu ý là Olympus E-M1 có thiết kế và độ hoàn thiện rất tốt, tốt hơn Fuji X-T1 rất nhiều, từ độ bền, chất lượng vòng xoay hay nút bấm. Chất lượng thiết kế của Fuji là tệ nhất trong 3 camera.

   Steve chia sẻ, đối với ông E-M1 cho cảm giác vận hành như một chiếc "máy chuyên nghiệp", Fuji thì như "đồ chơi". Sony cũng rất chắc chắn và không có cảm giác "rẻ tiền" nhưng không thể so lại với Olympus. Tuy nhiên, Sony A7II là một bản nâng cấp từ A7 và có thiết kế "ngang ngửa" với E-M1.

   Tất cả những hạn chế về chất lượng ảnh với hệ cảm biến Micro 4/3 có thể dễ dàng bỏ qua với những công nghệ tuyệt vời mà Olympus có. E-M1 không chỉ là một chiếc máy ảnh tuyệt vời, mà sử dụng nó cũng rất "sướng", hay như Steve gói gọn trong một từ - FUN - thú vị. Fuji thì không có được thiện cảm như vậy (vòng xoay rất dễ bị điều chỉnh, thay đổi chế độ chụp khá khó chịu S-CL-CH, cần gạt và vòng xoay có cảm giác rẻ tiền...). Sony không có gì để chê trách trừ chế độ AWB không thực sự tốt.

   Tóm lại, cả 3 camera đều rất tuyệt vời và sự lựa chọn nằm ở sở thích của mỗi cá nhân. Nhất là khi hậu kỳ, đôi khi điểm yếu và điểm mạnh lại không còn quá quan trọng.

   Kết quả bài so sánh: Olmypus có 6 chiến thắng, Sony có 4 và Fuji chỉ có 1. Tuy nhiên, đây chỉ là cảm quan của Steve còn mỗi người đọc có thể có kết luận của riêng mình. Đây không phải là "SỰ THẮNG THUA", cái quan trọng là "BẠN THÍCH CÁI NÀO HƠN" mà thôi.  



Bài viết gốc: stevehuffphoto
N.Đ.Phan (P.N.)
Bài viết được dịch bởi P.N.
Các bạn có thể liên hệ tác giả nếu muốn sử dụng lại bài viết
*** Để có thể comment bằng Disqus, đầu tiên các bạn cần đăng nhập bằng Facebook bằng cách click vào biểu tượng Facebook ở dưới
Bài viết mới

Vsion.vn

By Vsion team 01 Nov, 2017
   Với người sử dụng máy ảnh Sony không gương lật ngàm E thì kho ống kính ngàm A của Sony / Minolta là một nguồn ống kính rất phong phú với giá cả phải chăng và chất lượng tốt. Vì thế khi phát triển hệ thống máy ảnh ngàm E thì Sony cũng thiết kế các ngàm chuyển để người dùng có thể sử dụng được ống kính ngàm A trên máy ảnh ngàm E. Hiện nay có 4 loại ngàm chuyển tên là LA-EA ( L ens A dapter for E -mount cameras to use  A - mount lenses) được phân biệt như sau:

  • LA-EA1 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A có motor trong (SSM và SAM); ống kính không có motor lấy nét (điều khiển qua ốc vít) của Minolta và một số ống kính của Sony chỉ có thể lấy nét tay chứ không AF được. Ngàm này không có kính mờ (translucent mirror) ở giữa.

  • LA-EA2 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A không có motor trong (điều khiển qua ốc vít). Ngàm này có sử dụng kính mờ ở giữa ngàm nên làm giảm 30% lượng ánh sáng đi qua ống kính. Để điều khiển lấy nét, ngàm có hệ thống motor lấy nét nằm trong ngàm và hoạt động độc lập với camera nên tốc độ lấy nét, số điểm lấy nét không phụ thuộc máy ảnh. Ngàm sử dụng 15 điểm lấy nét theo pha (PDAF) trong đó có 3 điểm là cross-type .

  • LA-EA3 : giống LA-EA1 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame (ống kính crop sẽ không bao phủ được toàn bộ cảm biến).

  • LA-EA4 : giống LA-EA2 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame. LA-EA4 hoạt động được với tất cả ống kính ngàm A của Minolta, Sony, Tamron, Sigma, ngoại trừ các ống kính Minolta AF Xi.
By Vsion team 31 Oct, 2017
   Vào những năm 1850, nhiếp ảnh đã trở nên phổ biến và đỡ tốn kém hơn với nhiều người. Đây cũng là nguyên do dẫn tới một trào lưu trong thời kỳ Victoria (thời kỳ trị vì của Nữ hoàng Anh quốc Victoria từ 1837 tới 1901) gọi là trào lưu chụp ảnh cùng người mới chết ( post-mortem photography ) khi người chết được chụp ảnh trong cùng album với những người thân thích trong gia đình. Dưới đây là 2 phút video tài liệu về trào lưu này được thực hiện bởi kênh HISTORY .

   Được biết tới với cái tên memento mori (nghĩa là " hãy nhớ là bạn phải chết " - " remember you must die "), trào lưu này ngày càng trở nên thịnh hành và ngay cả Nữ hoàng Victoria cũng ngủ dưới tấm hình người chồng quá cố của mình.
By Vsion team 30 Oct, 2017
   Sigma là tập đoàn sản xuất thiết bị ngành ảnh lâu đời của Nhật được ra đời vào năm 1961 bởi Michihiro Yamaki và ông cũng là CEO của công ty cho tới khi qua đời vào năm 2012. Vẫn được biết đến như một công ty sản xuất ống kính cho các hệ máy ảnh của các hãng lớn và phục vụ hệ máy ảnh của chính công ty mình, các ống kính của Sigma có thể hoạt động trên các máy ảnh DSLR của Canon, Nikon, Pentax thông qua quá trình thiết kế bắt chước phương thức lấy nét tự động (AF) của các loại máy ảnh này. Các ống kính của Sigma có chất lượng thường được xếp sau các ống kính "chính hãng" và có mức giá dễ chịu hơn.

   Vào năm 2013, sau khi Michihiro Yamaki mất, Sigma cũng bắt đầu một cuộc cách mạng mới được đánh dấu với sự ra đời của dòng ống kính Global Vision với các ống kính được nâng cấp từ các ống kính hãng đã từng chế tạo theo tiêu chuẩn cao và nghiên cứu phát triển những ống kính mới chưa từng xuất hiện trên thị trường. Một điểm đặc biệt nữa của các ống kính Global Vision là Sigma lần đầu tiên nhận thay ngàm cho các ống kính này nếu người sử dụng có nhu cầu đổi hệ máy mà không muốn đổi ống kính. Ngoài ra, các ống kính Global Vision đều tương thích với Sigma USB Dock là một thiết bị kết nối trực tiếp với ống kính thông qua ngàm tương thích và điều khiển thông qua máy vi tính để cân chỉnh khả năng focus của ống kính, giúp người dùng có thể tự điều chỉnh ống kính khi độ chính xác chưa được như mong muốn.
By Vsion team 27 Oct, 2017
   Sau 2 năm rưỡi kể từ ngày Sony công bố A7R mark II (tháng 6 năm 2015), ngày hôm qua Sony đã chính thức công bố thế hệ thứ ba của chiếc máy ảnh full frame không gương lật cao cấp này. Trái với thứ tự ưu tiên công bố, thay vì công bố máy A7 dòng R (High Resolution - độ phân giải cao) sau A7 thì lần này Sony công bố A7R mark III  (hay A7RIII ) đầu tiên trong series mới. Động thái này có thể là lời đáp trả của Sony với sự kiện Nikon công bố máy ảnh full frame DSLR thế hệ mới D850 hồi tháng 4. Đây là một bất ngờ lớn với cộng đồng nhiếp ảnh vì những thông tin gần đây nhất có được đều hướng về A7 mark III. So với A7RII thì A7RIII có nhiều nâng cấp nhỏ thay vì cải tiến đột phá về công nghệ, thế nên chúng ta hãy nhìn vào chi tiết các tính năng và đặc điểm mới của chiếc máy này xem nó có phải một phiên bản tốt hơn hẳn thế hệ trước hay không.

   Bài viết này của Vsion chỉ tập trung phân tích các đặc tính được công bố của hãng cùng thông tin bổ sung từ các reviewer nên chúng ta vẫn cẩn xác nhận lại khi chiếc máy ảnh này đến tay người dùng. Cuối bài viết, chúng tôi cũng cung cấp bảng so sánh chi tiết A7RIII so với A7RII và Nikon D850 để bạn đọc có thể có cái nhìn đầy đủ về mối tương quan của chiếc máy ảnh này với hai lựa chọn gần với nó trên thị trường.
By Vsion team 18 Oct, 2017
   Chắc hẳn sẽ có lúc nào đó trong chuỗi ngày cầm máy ảnh, bạn sẽ thấy bí bách với những tấm ảnh mình thường chụp, với mức độ "xóa phông" của ống kính mình hay dùng, với những câu hỏi căn bản như ảnh của mình có lấy đúng nét hay không, bokeh có mịn màng không... Hoặc bạn sẽ thấy ống kính của mình rất giới hạn ở khả năng chụp gần, không tạo hiệu ứng 3D, khó tạo điểm nhấn đặc biệt... Nếu bạn gặp phải những chuyện này thì đó là chuyện hoàn toàn bình thường và rất dễ gặp khi chúng ta bị gò bò trong cách sử dụng các thiết bị các bạn đang có trong tay. Khi bắt đầu loạt bài viết Vượt qua giới hạn thiết bị , mình có suy nghĩ là muốn giới thiệu với các bạn những cách tiếp cận để tăng hiệu quả quang học của thiết bị và làm tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí quang học như đạt DOF mỏng hơn giới hạn, khử noise tốt hơn khả năng của máy, tuy nhiên một tấm ảnh đẹp không nhất thiết phải là một tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí chất lượng hình ảnh. Nếu như hai bài viết trước giúp các bạn phần nào cải thiện giới hạn trên của các thiết bị, trong bài viết thứ ba này mình muốn giới thiệu tới các bạn cách để vượt qua... giới hạn dưới của ống kính. Freelensing là tên của kỹ thuật nhiếp ảnh (hay lens whacking trong quay phim) giúp chúng ta gỡ bỏ những ràng buộc của ống kính và máy ảnh, làm tấm ảnh bộc lộ rõ những "điểm yếu về quang học" mà chúng ta thường tránh như hiện tượng lệch mặt phẳng nét, giảm độ nét hay bị light leak và flare khắp mọi nơi, nhưng đó mới là những thứ chúng ta cần khai thác để tạo ra những tấm ảnh có phong cách mới lạ và sáng tạo.

   Đầu tiên, mời các bạn xem video dưới đây do tác giả James Miller thực hiện hoàn toàn bằng phương pháp lens whacking để hiểu được hiệu ứng chúng ta sẽ đạt được bằng phương pháp này.
By Vsion team 13 Oct, 2017
   Ngày nay khá nhiều người mới tập sử dụng máy ảnh với ống kính AF có thể ngạc nhiên khi nhắc tới khái niệm lỗ khẩu hay lá khẩu, và khái niệm khẩu độ chỉ thể hiện bằng con số có thể điều chỉnh trên máy ảnh. Lý do là hiện nay máy ảnh đã được thiết kế để người dùng không phải điều chỉnh khẩu độ bằng tay thông qua cơ chế cơ học nữa (tuy nhiên vẫn có những loại ống kính cho phép điều khiển vòng khẩu độ mặc dù nó được điều khiển điện) và lá khẩu chỉ đóng rất nhanh khi chụp ảnh. Vì thế nên nếu các bạn không để ý, cũng dễ hiểu khi các bạn chưa từng nhìn thấy hình dạng cái lỗ khẩu nó ra làm sao.

   Vai trò của lỗ khẩu là một vị trí trong ống kính có thể điều khiển diện tích thông qua việc đóng, mở các lá khẩu và thay đổi lượng ánh sáng đi qua ống kính, từ đó giúp bạn điều chỉnh độ sâu trường ảnh, độ nét, mức độ sáng của hình. Trong thời kỳ ống kính chưa có hệ thống motor điều khiển lấy nét tự động thì các ống kính nhiếp ảnh đều có vòng khẩu độ nằm trước hoặc nằm sau vòng lấy nét để giúp bạn điều chỉnh giá trị f-stop. Do việc điều chỉnh khẩu độ hoàn toàn là cơ học nên một thao tác quan trọng khi dùng máy film để lấy nét là bạn mở vòng khẩu độ ra hết cỡ để lấy nhiều ánh sáng nhất có thể (nếu không viewfinder sẽ tối), sau đó lấy nét vào điểm mong muốn rồi mới hạ vòng khẩu độ này xuống giá trị f-stop bạn cần để chụp. Để phục vụ cho nhu cầu này, nhiều ống kính lấy nét tay (MF) có thêm một vòng khẩu độ nữa, có tác dụng giới hạn vòng khẩu độ thứ hai. Đây gọi là các ống kính pre-set (xác lập trước) mà khi sử dụng bạn cần chỉnh một vòng khẩu độ đến giá trị mong muốn, sau đó vặn vòng khẩu độ thứ hai di chuyển rất nhanh giữa vị trí mở khẩu độ lớn nhất và vị trí bạn đã xác lập trước mà không cần phải nhìn lại thân ống kính.
More Posts
Share by: