Biểu đồ MTF (MTF Chart)

  • By Vsion team
  • 12 Dec, 2016
    MTF (Modulation Transfer Function) Chart - tạm dịch là Biểu đồ chức năng chuyển điều biến (hay gọi ngắn gọn là biểu đồ MTF ) có giá trị rất quan trọng trong việc đánh giá khả năng quang học của ống kính. Khi phân tích Biểu đồ MTF, chúng ta có thể nắm được những tính chất quang học chính của một ống kính như khả năng phân giải (resolution), độ tương phản (contrast), độ cong trường nét (field curvature) và loạn thị (astigmatism).
   
   Nhiều người nghĩ rằng biểu đồ MTF không thực sự cần thiết để đánh giá chất lượng của ống kính, nó chỉ là những con số nhàm chán. Tuy nhiên, trong thực tế, khi đánh giá các tính chất quang học của ống kính như độ sắc nét, tương phản thì đánh giá của mỗi người trong điều kiện khác nhau mang tính chủ quan rất cao, ví dụ như "độ nét cao" của người này thực chất chỉ tương đương "độ nét trung bình" của người khác, nên MTF vẫn có chỗ đứng quan trọng như một dữ kiện chính xác để mọi người tham khảo trước khi được tận tay sử dụng ống kính. Mặc dù vậy, bạn vẫn luôn cần nhớ là biểu đồ MTF do các hãng thực hiện luôn có những sai khác nhất định do phương pháp thực hiện và cách trình bày, dựa theo cùng một nguyên tắc: đo khả năng phân biệt những dòng kẻ song song nằm sát nhau của ống kính ở những vị trí khác nhau trên cảm biến để đánh giá khả năng "chuyển" thông tin từ hình ảnh thực tế sang cảm biến / bề mặt phim.
   Biểu đồ MTF được xây dựng như thế nào?

   Trước hết, chúng ta cần biết biểu đồ MTF luôn bao gồm 2 trục: trục ngang thể hiện khoảng cách của điểm đo độ tương phản / phân giải tính từ tâm của cảm biến, tính bằng mm (điểm 0 là giá trị tương phản / nét tại chính giữa ảnh còn điểm ngoài cùng là góc tận cùng của ảnh), còn trục dọc thể hiện giá trị độ tương phản / phân giải của từng điểm được đo. Nhìn vào thang khoảng cách của biểu đồ MTF chúng ta có thể biết đó là biểu đồ quang học của ống kính trên cảm biến full frame hay crop, ví dụ biểu đồ dưới đây là MTF ống kính full frame của Nikon vì kích cỡ cảm biến là 24 x 36mm.
    Độ tương phản là khả năng phân biệt độ sáng tối của 2 khu vực nằm ngay cạnh nhau, như minh họa ở hình dưới: độ tương phản cao thể hiện rõ ranh giới giữa đường kẻ trắng và đen (độ tương phản 100%), còn khi độ tương phản giảm thì màu đen sáng hơn, màu trắng tối hơn cho tới khi không phân biệt được nữa (độ tương phản 0%). Đây cũng chính là thang đơn vị cho trục dọc của biểu đồ MTF (thay vì thang phần trăm thì thang giá trị thập phân từ 0 tới 1 được sử dụng cho ngắn gọn).
   Để đo độ tương phản tại các điểm khác nhau, người ta chụp ảnh bảng MTF và phân tích hình ảnh thu được. Bảng MTF được thiết kế bao gồm những nhóm đường kẻ nằm sát nhau phân bố đều từ tâm ra tới góc của một hình chữ nhật tương ứng với tỷ lệ của cảm biến. Ở hình dưới là bảng MTF của Nikon cho ống kính full frame. Ở mỗi điểm dùng để đánh giá, có 2 nhóm đường thẳng được đặt cạnh nhau: nhóm 10 cặp đường thẳng/mm (10 line pairs/mm hay 10 lp/mm) và nhóm 30 cặp đường thẳng/mm (hay 30 lp/mm). Có thể dễ nhận thấy là khi chụp hình ảnh của 2 nhóm đường thẳng này, nhóm có mật độ đường thẳng cao và kích thước đường thẳng nhỏ (30 lp/mm) sẽ khó có thể phân biệt hơn so với nhóm còn lại. Vì phần lớn ống kính hiện nay có thể phân biệt rõ các đường thẳng 10 lp/mm trong khi 30 lp/mm khó phân biệt hơn, người ta dùng 10 lp/mm để đo độ tương phản còn 30 lp/mm để đo khả năng phân giải chi tiết của ống kính (resolving power). Một số hãng máy ảnh có thể dùng nhóm mật độ đường thẳng hơi khác như 20 lp/mm, 40 lp/mm, thậm chí 50 lp/mm đối với ống kính dành cho các hệ máy dùng cảm biến / phim lớn hơn khổ full frame 35mm. Ngoài ra, trong cùng một nhóm, các đường thẳng cũng được chia ra làm 2 nhóm nhỏ theo hướng vuông góc với nhau gọi là đường Sagittal (song song với đường chéo hướng tâm) và đường Meridonial (vuông góc với đường chéo hướng tâm, một số nơi còn gọi là Tangential).
   Giá trị trên biểu đồ MTF như thế nào được gọi là cao?

   Thông thường, giá trị độ tương phản đo bằng đường 10 hay 20 lp/mm cao hơn giá trị khả năng phân giải (hay gọi ngắn gọn là độ phân giải) và thường được coi là rất cao nếu đạt tầm 0.9 trở lên, là tốt trong tầm 0.7 - 0.9, trung bình trong khoảng 0.5 - 0.7 và dưới 0.5 là ống kính độ tương phản và độ nét kém.

   Chúng ta hãy cùng phân tích một vài trường hợp như sau:
   Hình trên là ví dụ biểu đồ MTF của một ống kính điển hình. Đường đồ thị màu đỏ nằm cao hơn là đường chỉ tương phản (10 lp/mm) và đường màu xanh nằm dưới là đường chỉ độ phân giải (30 lp/mm). Độ tương phản của ống kính này cao ở chính giữa khung hình nhưng giảm nhanh tới giữa khung hình và đột ngột nét hơn ở gần rìa ảnh, sau đó giảm xuống rất thấp ở rìa / góc ảnh. Độ phân giải của ống kính khá cao ở trung tâm, giảm dần hướng ra ngoài rìa, mặc dù có nét hơn một chút ở tầm 1/3 phía ngoài ảnh nhưng cũng xuống rất thấp ở rìa / góc ảnh. Dạng đường cong đột ngột nhô lên khi hướng ra ngoài thể hiện độ cong trường nét (field curvature) dạng lượn sóng (chúng ta sẽ nói kỹ hơn ở dưới).  
   Còn đây là biểu đồ MTF của một ống kính tốt. Bạn có thể thấy cả 2 đường xanh và đỏ có giá trị từ tầm cao hơn ở hình trước đó và khi hướng ra phần rìa giá trị bị giảm rất ít, dù đường độ phân giải màu xanh giảm nhanh ở sát rìa nhưng chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trên toàn khung hình trong khi độ tương phản vẫn khá cao ở rìa ảnh. Đây cũng là loại biểu đồ MTF điển hình thường gặp bao gồm 4 đường đồ thị thay vì 2 như ở bảng trên. Trong trường hợp này mỗi nhóm đường bao gồm đường đồ thị tách biệt, được biểu diễn bằng nét liền (đường Sagittal hay đường hướng tâm) và nét rời (đường Meridonial, đôi lúc được gọi là Tangential hay đường vuông góc hướng tâm) gọi lần lượt là S10, M10, S30 và M30. Với ống kính này, không có khu vực nào của đồ thị tăng đột ngột nên có thể dự đoán ống kính này có độ cong trường ảnh thấp. Khi so sánh đường S và M chúng ta thấy ở trung tâm chúng rất gần nhau, điều này chứng tỏ ống kính này gần như không có dấu hiệu loạn thị (astigmatism) ở trung tâm, nhưng đến 1/3 phía ngoài biên, chênh lệch giữa đường S và M là đáng kể nên sẽ có loạn thị ở khu vực này.
   Ở trên mình có nhắc tới độ cong trường nét (field curvature) và loạn thị (astigmatism) nên ở phần này mình sẽ nói cụ thể hơn về hai lỗi quang học này và cách nhận biết từ biểu đồ MTF.

    Độ cong trường nét là thuật ngữ chỉ mức độ cong của mặt phẳng lấy nét do đặc điểm cấu tạo của từng ống kính. Hiện tượng cong trường nét rất phổ biến, có thể nhận ra khi chụp một vật thể phẳng theo hướng vuông góc với bề mặt nhưng chỉ có một vài phần nhất định trên bề mặt sắc nét, trong khi những phần khác bị mờ như không lấy nét được. Hiện tượng này gây ra do bản chất thấu kính dùng trong ống kính đều có bề mặt cong nên trường nét cũng không thể hoàn toàn phẳng được (như mô tả trong hình dưới).
   Với trường hợp cong đơn giản thế này, rất dễ hiểu nếu ảnh của bạn nét ở trung tâm nhưng mờ ở phía ngoài, vì lý do chính là khu vực phía ngoài không nằm trong trường nét của ống kính. Những ống kính hiện đại được sửa lỗi này cẩn thận sẽ có chất lượng ảnh ở tâm và rìa ảnh gần nhau hơn do độ cong được giảm xuống mức rất thấp. Tuy nhiên, lỗi cong trường ảnh dạng lượn sóng (wavy field curvature) như chúng ta đã nhắc tới ở biểu đồ MTF đầu tiên sẽ khó chữa hơn, như minh họa trong hình dưới: chỉ phần giữa và gần phía ngoài biên của hình nét, còn gần trung tâm lại bị mờ hoặc ngược lại nếu vùng gần tâm nét thì chính giữa hình và ngoài biên sẽ bị mờ. Những ống tiêu cự ngắn thường bị cong trường nét nặng hơn ống tele và nhiều khi mức độ cong còn tùy thuộc vào điểm lấy nét, ảnh có thể không sao nếu lấy nét gần nhưng lấy nét ở xa thì lại bị rõ.
    Loạn thị (astigmatism) là một hiện tượng rất gần với cong trường nét nhưng có khác đôi chút. Một ống kính bị loạn thị nặng khi các chi tiết phân bố theo hướng về tâm hình có độ nét khác với các chi tiết hướng theo chiều vuông góc. Để cho dễ hình dung, các bạn có thể liên hệ với bokeh xoáy của ống kính Helios 44-2 hoặc ống kính Petzval 85mm. Như chúng ta đã nhắc tới trên biểu đồ MTF, có 2 dạng đường thẳng hướng tâm (đường S) và vuông góc hướng tâm (đường M) được dùng để đánh giá chất lượng quang học của ống kính và lý do người ta phải so sánh mức độ thể hiện lại hình ảnh của 2 nhóm đường trên là vì chúng có thể biểu hiện khác nhau khi ánh sáng đi qua hệ thấu kính. Trong trường hợp cong trường nét nói tới ở trên, chúng ta không nhắc tới 2 đường S và M vì chúng có biểu hiện giống nhau, thể hiện qua một đường cong duy nhất của trường nét. Tuy nhiên trong thực tế, phụ thuộc vào hướng của chi tiết trên hình (gần S hay gần M) mà đường cong trường nét có thể khác nhau dẫn tới hiện tượng loạn thị.

   Hình dưới đây là minh họa rất rõ cho biểu hiện của ống kính loạn thị: khi lấy nét vào bánh xe tròn thì ống kính không bị loạn thị có thể lấy nét rất cả chi tiết, trong khi ống loạn thị lấy nét vào đường hướng tâm (sagittal focus) thì có hiện tượng mờ, xoáy với chi tiết chạy theo đường tròn ở tâm hình và vành bánh xe. Ngược lại, khi ống loạn thị lấy nét vào đường tròn (tangential focus) thì các đường hướng tâm bị mờ.
   Còn đây là hệ quả tác động tới bokeh của hình trong 2 trường hợp: loạn thị hướng vuông góc đường hướng tâm (tangential astigmatism) và loạn thị hướng tâm (sagittal astigmatism). Đây là dạng bokeh đặc trưng của 2 loại ống kính tận dụng lỗi quang học làm đặc trưng cho hiệu ứng nghệ thuật: Lensbaby (bên trái) và Petzval / Helios (bên phải). Chúng ta có thể gọi hiệu ứng loạn thị hướng tâm là hiệu ứng zoom còn hiệu ứng còn lại là hiệu ứng xoáy.
   Hiệu ứng zoom của ống Lensbaby Spark
   Hiệu ứng xoáy của Helios 44-2
   Hãy cùng phân tích biểu đồ MTF của ống kính New Petzval 58mm f/1.9 để nhận biết hiệu ứng xoáy của ống kính này. Hình dưới đây là biểu đồ MTF tại f/2.8 do hãng LOMO cung cấp. Trong trường hợp này biểu đồ MTF có 4 đường (5, 10, 20, 40 lp/mm) và hai đường mật độ thấp được dùng để đánh giá độ tương phản, hai đường mật độ cao dùng để đánh giá độ phân giải. Nhìn chung độ phân giải của ống kính khá thấp và giảm rất nhanh về phía rìa. Nếu để ý phần giữa khung hình, đường S (nét liền) hạ xuống rất thấp trong khi đường M  (nét rời) vẫn giữ giá trị trung bình, điều này có nghĩa là ống kính sẽ bị xoáy nặng ở gần trung tâm và giảm mức độ ở sát biên hình. Hiệu ứng này được hãng tăng cường qua các mức độ xoáy khác nhau có thể chỉnh được ngay trên thân ống kính.  
   Một số lưu ý khi phân tích biểu đồ MTF:

   1. Chỉ nên so sánh biểu đồ MTF của các ống kính khác nhau do cùng một hãng cung cấp và tốt nhất là ở cùng khẩu độ vì phương pháp xây dựng biểu đồ của từng hãng là khác nhau do các yếu tố như loại cảm biến, ánh sáng, phân bổ các nhóm đường thẳng có thể khác nhau.

   2. Thông thường các hãng có thể cung cấp biểu đồ MTF phức tạp hơn, bao gồm đường đồ thị xây dựng với các khẩu độ khác nhau (như khẩu độ lớn nhất và khẩu độ có độ phân giải tốt nhất) nên biểu đồ MTF có thể có 8 đường khác nhau hoặc nhiều hơn.

   3. Đường S thường được thể hiện bằng nét liền nhưng đôi khi lại thể hiện bằng nét đứt, bạn nên đọc kỹ ghi chú của hãng cung cấp biểu đồ.

   4. Đơn vị lp/mm được sử dụng phổ biến với máy film nhưng đơn vị lw/ph (line width/photo height - độ dày đường thẳng/chiều cao hình) hay được dùng cho cảm biến điện tử do kích thước cảm biến có thể rất khác nhau tùy hãng. Công thức tính lw/ph = 2 x lp/mm x chiều cao hình (tính bằng mm).

   5. Một số nhóm đánh giá ống kính như ePHOTOzine không sử dụng dạng đồ thị như trên mà chỉ đo độ phân giải khi thay đổi khẩu độ ống kính (tính bằng lw/ph) và thể hiện dưới dạng biểu đồ cột với giá trị trục ngang là khẩu độ, giá trị trục dọc là độ phân giải tại khẩu độ đó, đo tại các điểm khác nhau như trung tâm (center), vùng trung gian giữa trung tâm và rìa (mid-range), vùng rìa hình (edge).

   6. Giới hạn của biểu đồ MTF là không phản ánh được một số tính chất quan trọng của ống kính như quang sai màu, độ méo hình và khả năng chống lóa (flare).
    Trong bài có sử dụng hình minh họa từ trang photographylife.com, handprint.com, lomography.com, lensbaby.com và dpreview.com.
Dr. Fox
Bài viết được biên tập bởi Dr. Fox
Nghiêm cấm sử dụng lại trên các trang web và ấn phẩm khác
*** Để có thể comment bằng Disqus, đầu tiên các bạn cần đăng nhập bằng Facebook bằng cách click vào biểu tượng Facebook ở dưới
Bài viết mới

Vsion.vn

By Vsion team 01 Nov, 2017
   Với người sử dụng máy ảnh Sony không gương lật ngàm E thì kho ống kính ngàm A của Sony / Minolta là một nguồn ống kính rất phong phú với giá cả phải chăng và chất lượng tốt. Vì thế khi phát triển hệ thống máy ảnh ngàm E thì Sony cũng thiết kế các ngàm chuyển để người dùng có thể sử dụng được ống kính ngàm A trên máy ảnh ngàm E. Hiện nay có 4 loại ngàm chuyển tên là LA-EA ( L ens A dapter for E -mount cameras to use  A - mount lenses) được phân biệt như sau:

  • LA-EA1 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A có motor trong (SSM và SAM); ống kính không có motor lấy nét (điều khiển qua ốc vít) của Minolta và một số ống kính của Sony chỉ có thể lấy nét tay chứ không AF được. Ngàm này không có kính mờ (translucent mirror) ở giữa.

  • LA-EA2 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A không có motor trong (điều khiển qua ốc vít). Ngàm này có sử dụng kính mờ ở giữa ngàm nên làm giảm 30% lượng ánh sáng đi qua ống kính. Để điều khiển lấy nét, ngàm có hệ thống motor lấy nét nằm trong ngàm và hoạt động độc lập với camera nên tốc độ lấy nét, số điểm lấy nét không phụ thuộc máy ảnh. Ngàm sử dụng 15 điểm lấy nét theo pha (PDAF) trong đó có 3 điểm là cross-type .

  • LA-EA3 : giống LA-EA1 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame (ống kính crop sẽ không bao phủ được toàn bộ cảm biến).

  • LA-EA4 : giống LA-EA2 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame. LA-EA4 hoạt động được với tất cả ống kính ngàm A của Minolta, Sony, Tamron, Sigma, ngoại trừ các ống kính Minolta AF Xi.
By Vsion team 31 Oct, 2017
   Vào những năm 1850, nhiếp ảnh đã trở nên phổ biến và đỡ tốn kém hơn với nhiều người. Đây cũng là nguyên do dẫn tới một trào lưu trong thời kỳ Victoria (thời kỳ trị vì của Nữ hoàng Anh quốc Victoria từ 1837 tới 1901) gọi là trào lưu chụp ảnh cùng người mới chết ( post-mortem photography ) khi người chết được chụp ảnh trong cùng album với những người thân thích trong gia đình. Dưới đây là 2 phút video tài liệu về trào lưu này được thực hiện bởi kênh HISTORY .

   Được biết tới với cái tên memento mori (nghĩa là " hãy nhớ là bạn phải chết " - " remember you must die "), trào lưu này ngày càng trở nên thịnh hành và ngay cả Nữ hoàng Victoria cũng ngủ dưới tấm hình người chồng quá cố của mình.
By Vsion team 30 Oct, 2017
   Sigma là tập đoàn sản xuất thiết bị ngành ảnh lâu đời của Nhật được ra đời vào năm 1961 bởi Michihiro Yamaki và ông cũng là CEO của công ty cho tới khi qua đời vào năm 2012. Vẫn được biết đến như một công ty sản xuất ống kính cho các hệ máy ảnh của các hãng lớn và phục vụ hệ máy ảnh của chính công ty mình, các ống kính của Sigma có thể hoạt động trên các máy ảnh DSLR của Canon, Nikon, Pentax thông qua quá trình thiết kế bắt chước phương thức lấy nét tự động (AF) của các loại máy ảnh này. Các ống kính của Sigma có chất lượng thường được xếp sau các ống kính "chính hãng" và có mức giá dễ chịu hơn.

   Vào năm 2013, sau khi Michihiro Yamaki mất, Sigma cũng bắt đầu một cuộc cách mạng mới được đánh dấu với sự ra đời của dòng ống kính Global Vision với các ống kính được nâng cấp từ các ống kính hãng đã từng chế tạo theo tiêu chuẩn cao và nghiên cứu phát triển những ống kính mới chưa từng xuất hiện trên thị trường. Một điểm đặc biệt nữa của các ống kính Global Vision là Sigma lần đầu tiên nhận thay ngàm cho các ống kính này nếu người sử dụng có nhu cầu đổi hệ máy mà không muốn đổi ống kính. Ngoài ra, các ống kính Global Vision đều tương thích với Sigma USB Dock là một thiết bị kết nối trực tiếp với ống kính thông qua ngàm tương thích và điều khiển thông qua máy vi tính để cân chỉnh khả năng focus của ống kính, giúp người dùng có thể tự điều chỉnh ống kính khi độ chính xác chưa được như mong muốn.
By Vsion team 27 Oct, 2017
   Sau 2 năm rưỡi kể từ ngày Sony công bố A7R mark II (tháng 6 năm 2015), ngày hôm qua Sony đã chính thức công bố thế hệ thứ ba của chiếc máy ảnh full frame không gương lật cao cấp này. Trái với thứ tự ưu tiên công bố, thay vì công bố máy A7 dòng R (High Resolution - độ phân giải cao) sau A7 thì lần này Sony công bố A7R mark III  (hay A7RIII ) đầu tiên trong series mới. Động thái này có thể là lời đáp trả của Sony với sự kiện Nikon công bố máy ảnh full frame DSLR thế hệ mới D850 hồi tháng 4. Đây là một bất ngờ lớn với cộng đồng nhiếp ảnh vì những thông tin gần đây nhất có được đều hướng về A7 mark III. So với A7RII thì A7RIII có nhiều nâng cấp nhỏ thay vì cải tiến đột phá về công nghệ, thế nên chúng ta hãy nhìn vào chi tiết các tính năng và đặc điểm mới của chiếc máy này xem nó có phải một phiên bản tốt hơn hẳn thế hệ trước hay không.

   Bài viết này của Vsion chỉ tập trung phân tích các đặc tính được công bố của hãng cùng thông tin bổ sung từ các reviewer nên chúng ta vẫn cẩn xác nhận lại khi chiếc máy ảnh này đến tay người dùng. Cuối bài viết, chúng tôi cũng cung cấp bảng so sánh chi tiết A7RIII so với A7RII và Nikon D850 để bạn đọc có thể có cái nhìn đầy đủ về mối tương quan của chiếc máy ảnh này với hai lựa chọn gần với nó trên thị trường.
By Vsion team 18 Oct, 2017
   Chắc hẳn sẽ có lúc nào đó trong chuỗi ngày cầm máy ảnh, bạn sẽ thấy bí bách với những tấm ảnh mình thường chụp, với mức độ "xóa phông" của ống kính mình hay dùng, với những câu hỏi căn bản như ảnh của mình có lấy đúng nét hay không, bokeh có mịn màng không... Hoặc bạn sẽ thấy ống kính của mình rất giới hạn ở khả năng chụp gần, không tạo hiệu ứng 3D, khó tạo điểm nhấn đặc biệt... Nếu bạn gặp phải những chuyện này thì đó là chuyện hoàn toàn bình thường và rất dễ gặp khi chúng ta bị gò bò trong cách sử dụng các thiết bị các bạn đang có trong tay. Khi bắt đầu loạt bài viết Vượt qua giới hạn thiết bị , mình có suy nghĩ là muốn giới thiệu với các bạn những cách tiếp cận để tăng hiệu quả quang học của thiết bị và làm tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí quang học như đạt DOF mỏng hơn giới hạn, khử noise tốt hơn khả năng của máy, tuy nhiên một tấm ảnh đẹp không nhất thiết phải là một tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí chất lượng hình ảnh. Nếu như hai bài viết trước giúp các bạn phần nào cải thiện giới hạn trên của các thiết bị, trong bài viết thứ ba này mình muốn giới thiệu tới các bạn cách để vượt qua... giới hạn dưới của ống kính. Freelensing là tên của kỹ thuật nhiếp ảnh (hay lens whacking trong quay phim) giúp chúng ta gỡ bỏ những ràng buộc của ống kính và máy ảnh, làm tấm ảnh bộc lộ rõ những "điểm yếu về quang học" mà chúng ta thường tránh như hiện tượng lệch mặt phẳng nét, giảm độ nét hay bị light leak và flare khắp mọi nơi, nhưng đó mới là những thứ chúng ta cần khai thác để tạo ra những tấm ảnh có phong cách mới lạ và sáng tạo.

   Đầu tiên, mời các bạn xem video dưới đây do tác giả James Miller thực hiện hoàn toàn bằng phương pháp lens whacking để hiểu được hiệu ứng chúng ta sẽ đạt được bằng phương pháp này.
By Vsion team 13 Oct, 2017
   Ngày nay khá nhiều người mới tập sử dụng máy ảnh với ống kính AF có thể ngạc nhiên khi nhắc tới khái niệm lỗ khẩu hay lá khẩu, và khái niệm khẩu độ chỉ thể hiện bằng con số có thể điều chỉnh trên máy ảnh. Lý do là hiện nay máy ảnh đã được thiết kế để người dùng không phải điều chỉnh khẩu độ bằng tay thông qua cơ chế cơ học nữa (tuy nhiên vẫn có những loại ống kính cho phép điều khiển vòng khẩu độ mặc dù nó được điều khiển điện) và lá khẩu chỉ đóng rất nhanh khi chụp ảnh. Vì thế nên nếu các bạn không để ý, cũng dễ hiểu khi các bạn chưa từng nhìn thấy hình dạng cái lỗ khẩu nó ra làm sao.

   Vai trò của lỗ khẩu là một vị trí trong ống kính có thể điều khiển diện tích thông qua việc đóng, mở các lá khẩu và thay đổi lượng ánh sáng đi qua ống kính, từ đó giúp bạn điều chỉnh độ sâu trường ảnh, độ nét, mức độ sáng của hình. Trong thời kỳ ống kính chưa có hệ thống motor điều khiển lấy nét tự động thì các ống kính nhiếp ảnh đều có vòng khẩu độ nằm trước hoặc nằm sau vòng lấy nét để giúp bạn điều chỉnh giá trị f-stop. Do việc điều chỉnh khẩu độ hoàn toàn là cơ học nên một thao tác quan trọng khi dùng máy film để lấy nét là bạn mở vòng khẩu độ ra hết cỡ để lấy nhiều ánh sáng nhất có thể (nếu không viewfinder sẽ tối), sau đó lấy nét vào điểm mong muốn rồi mới hạ vòng khẩu độ này xuống giá trị f-stop bạn cần để chụp. Để phục vụ cho nhu cầu này, nhiều ống kính lấy nét tay (MF) có thêm một vòng khẩu độ nữa, có tác dụng giới hạn vòng khẩu độ thứ hai. Đây gọi là các ống kính pre-set (xác lập trước) mà khi sử dụng bạn cần chỉnh một vòng khẩu độ đến giá trị mong muốn, sau đó vặn vòng khẩu độ thứ hai di chuyển rất nhanh giữa vị trí mở khẩu độ lớn nhất và vị trí bạn đã xác lập trước mà không cần phải nhìn lại thân ống kính.
More Posts
Share by: