Biểu đồ MTF (MTF Chart)

  • By Vsion team
  • 12 Dec, 2016
    MTF (Modulation Transfer Function) Chart - tạm dịch là Biểu đồ chức năng chuyển điều biến (hay gọi ngắn gọn là biểu đồ MTF ) có giá trị rất quan trọng trong việc đánh giá khả năng quang học của ống kính. Khi phân tích Biểu đồ MTF, chúng ta có thể nắm được những tính chất quang học chính của một ống kính như khả năng phân giải (resolution), độ tương phản (contrast), độ cong trường nét (field curvature) và loạn thị (astigmatism).
   
   Nhiều người nghĩ rằng biểu đồ MTF không thực sự cần thiết để đánh giá chất lượng của ống kính, nó chỉ là những con số nhàm chán. Tuy nhiên, trong thực tế, khi đánh giá các tính chất quang học của ống kính như độ sắc nét, tương phản thì đánh giá của mỗi người trong điều kiện khác nhau mang tính chủ quan rất cao, ví dụ như "độ nét cao" của người này thực chất chỉ tương đương "độ nét trung bình" của người khác, nên MTF vẫn có chỗ đứng quan trọng như một dữ kiện chính xác để mọi người tham khảo trước khi được tận tay sử dụng ống kính. Mặc dù vậy, bạn vẫn luôn cần nhớ là biểu đồ MTF do các hãng thực hiện luôn có những sai khác nhất định do phương pháp thực hiện và cách trình bày, dựa theo cùng một nguyên tắc: đo khả năng phân biệt những dòng kẻ song song nằm sát nhau của ống kính ở những vị trí khác nhau trên cảm biến để đánh giá khả năng "chuyển" thông tin từ hình ảnh thực tế sang cảm biến / bề mặt phim.
   Biểu đồ MTF được xây dựng như thế nào?

   Trước hết, chúng ta cần biết biểu đồ MTF luôn bao gồm 2 trục: trục ngang thể hiện khoảng cách của điểm đo độ tương phản / phân giải tính từ tâm của cảm biến, tính bằng mm (điểm 0 là giá trị tương phản / nét tại chính giữa ảnh còn điểm ngoài cùng là góc tận cùng của ảnh), còn trục dọc thể hiện giá trị độ tương phản / phân giải của từng điểm được đo. Nhìn vào thang khoảng cách của biểu đồ MTF chúng ta có thể biết đó là biểu đồ quang học của ống kính trên cảm biến full frame hay crop, ví dụ biểu đồ dưới đây là MTF ống kính full frame của Nikon vì kích cỡ cảm biến là 24 x 36mm.
    Độ tương phản là khả năng phân biệt độ sáng tối của 2 khu vực nằm ngay cạnh nhau, như minh họa ở hình dưới: độ tương phản cao thể hiện rõ ranh giới giữa đường kẻ trắng và đen (độ tương phản 100%), còn khi độ tương phản giảm thì màu đen sáng hơn, màu trắng tối hơn cho tới khi không phân biệt được nữa (độ tương phản 0%). Đây cũng chính là thang đơn vị cho trục dọc của biểu đồ MTF (thay vì thang phần trăm thì thang giá trị thập phân từ 0 tới 1 được sử dụng cho ngắn gọn).
   Để đo độ tương phản tại các điểm khác nhau, người ta chụp ảnh bảng MTF và phân tích hình ảnh thu được. Bảng MTF được thiết kế bao gồm những nhóm đường kẻ nằm sát nhau phân bố đều từ tâm ra tới góc của một hình chữ nhật tương ứng với tỷ lệ của cảm biến. Ở hình dưới là bảng MTF của Nikon cho ống kính full frame. Ở mỗi điểm dùng để đánh giá, có 2 nhóm đường thẳng được đặt cạnh nhau: nhóm 10 cặp đường thẳng/mm (10 line pairs/mm hay 10 lp/mm) và nhóm 30 cặp đường thẳng/mm (hay 30 lp/mm). Có thể dễ nhận thấy là khi chụp hình ảnh của 2 nhóm đường thẳng này, nhóm có mật độ đường thẳng cao và kích thước đường thẳng nhỏ (30 lp/mm) sẽ khó có thể phân biệt hơn so với nhóm còn lại. Vì phần lớn ống kính hiện nay có thể phân biệt rõ các đường thẳng 10 lp/mm trong khi 30 lp/mm khó phân biệt hơn, người ta dùng 10 lp/mm để đo độ tương phản còn 30 lp/mm để đo khả năng phân giải chi tiết của ống kính (resolving power). Một số hãng máy ảnh có thể dùng nhóm mật độ đường thẳng hơi khác như 20 lp/mm, 40 lp/mm, thậm chí 50 lp/mm đối với ống kính dành cho các hệ máy dùng cảm biến / phim lớn hơn khổ full frame 35mm. Ngoài ra, trong cùng một nhóm, các đường thẳng cũng được chia ra làm 2 nhóm nhỏ theo hướng vuông góc với nhau gọi là đường Sagittal (song song với đường chéo hướng tâm) và đường Meridonial (vuông góc với đường chéo hướng tâm, một số nơi còn gọi là Tangential).
   Giá trị trên biểu đồ MTF như thế nào được gọi là cao?

   Thông thường, giá trị độ tương phản đo bằng đường 10 hay 20 lp/mm cao hơn giá trị khả năng phân giải (hay gọi ngắn gọn là độ phân giải) và thường được coi là rất cao nếu đạt tầm 0.9 trở lên, là tốt trong tầm 0.7 - 0.9, trung bình trong khoảng 0.5 - 0.7 và dưới 0.5 là ống kính độ tương phản và độ nét kém.

   Chúng ta hãy cùng phân tích một vài trường hợp như sau:
   Hình trên là ví dụ biểu đồ MTF của một ống kính điển hình. Đường đồ thị màu đỏ nằm cao hơn là đường chỉ tương phản (10 lp/mm) và đường màu xanh nằm dưới là đường chỉ độ phân giải (30 lp/mm). Độ tương phản của ống kính này cao ở chính giữa khung hình nhưng giảm nhanh tới giữa khung hình và đột ngột nét hơn ở gần rìa ảnh, sau đó giảm xuống rất thấp ở rìa / góc ảnh. Độ phân giải của ống kính khá cao ở trung tâm, giảm dần hướng ra ngoài rìa, mặc dù có nét hơn một chút ở tầm 1/3 phía ngoài ảnh nhưng cũng xuống rất thấp ở rìa / góc ảnh. Dạng đường cong đột ngột nhô lên khi hướng ra ngoài thể hiện độ cong trường nét (field curvature) dạng lượn sóng (chúng ta sẽ nói kỹ hơn ở dưới).  
   Còn đây là biểu đồ MTF của một ống kính tốt. Bạn có thể thấy cả 2 đường xanh và đỏ có giá trị từ tầm cao hơn ở hình trước đó và khi hướng ra phần rìa giá trị bị giảm rất ít, dù đường độ phân giải màu xanh giảm nhanh ở sát rìa nhưng chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trên toàn khung hình trong khi độ tương phản vẫn khá cao ở rìa ảnh. Đây cũng là loại biểu đồ MTF điển hình thường gặp bao gồm 4 đường đồ thị thay vì 2 như ở bảng trên. Trong trường hợp này mỗi nhóm đường bao gồm đường đồ thị tách biệt, được biểu diễn bằng nét liền (đường Sagittal hay đường hướng tâm) và nét rời (đường Meridonial, đôi lúc được gọi là Tangential hay đường vuông góc hướng tâm) gọi lần lượt là S10, M10, S30 và M30. Với ống kính này, không có khu vực nào của đồ thị tăng đột ngột nên có thể dự đoán ống kính này có độ cong trường ảnh thấp. Khi so sánh đường S và M chúng ta thấy ở trung tâm chúng rất gần nhau, điều này chứng tỏ ống kính này gần như không có dấu hiệu loạn thị (astigmatism) ở trung tâm, nhưng đến 1/3 phía ngoài biên, chênh lệch giữa đường S và M là đáng kể nên sẽ có loạn thị ở khu vực này.
   Ở trên mình có nhắc tới độ cong trường nét (field curvature) và loạn thị (astigmatism) nên ở phần này mình sẽ nói cụ thể hơn về hai lỗi quang học này và cách nhận biết từ biểu đồ MTF.

    Độ cong trường nét là thuật ngữ chỉ mức độ cong của mặt phẳng lấy nét do đặc điểm cấu tạo của từng ống kính. Hiện tượng cong trường nét rất phổ biến, có thể nhận ra khi chụp một vật thể phẳng theo hướng vuông góc với bề mặt nhưng chỉ có một vài phần nhất định trên bề mặt sắc nét, trong khi những phần khác bị mờ như không lấy nét được. Hiện tượng này gây ra do bản chất thấu kính dùng trong ống kính đều có bề mặt cong nên trường nét cũng không thể hoàn toàn phẳng được (như mô tả trong hình dưới).
   Với trường hợp cong đơn giản thế này, rất dễ hiểu nếu ảnh của bạn nét ở trung tâm nhưng mờ ở phía ngoài, vì lý do chính là khu vực phía ngoài không nằm trong trường nét của ống kính. Những ống kính hiện đại được sửa lỗi này cẩn thận sẽ có chất lượng ảnh ở tâm và rìa ảnh gần nhau hơn do độ cong được giảm xuống mức rất thấp. Tuy nhiên, lỗi cong trường ảnh dạng lượn sóng (wavy field curvature) như chúng ta đã nhắc tới ở biểu đồ MTF đầu tiên sẽ khó chữa hơn, như minh họa trong hình dưới: chỉ phần giữa và gần phía ngoài biên của hình nét, còn gần trung tâm lại bị mờ hoặc ngược lại nếu vùng gần tâm nét thì chính giữa hình và ngoài biên sẽ bị mờ. Những ống tiêu cự ngắn thường bị cong trường nét nặng hơn ống tele và nhiều khi mức độ cong còn tùy thuộc vào điểm lấy nét, ảnh có thể không sao nếu lấy nét gần nhưng lấy nét ở xa thì lại bị rõ.
    Loạn thị (astigmatism) là một hiện tượng rất gần với cong trường nét nhưng có khác đôi chút. Một ống kính bị loạn thị nặng khi các chi tiết phân bố theo hướng về tâm hình có độ nét khác với các chi tiết hướng theo chiều vuông góc. Để cho dễ hình dung, các bạn có thể liên hệ với bokeh xoáy của ống kính Helios 44-2 hoặc ống kính Petzval 85mm. Như chúng ta đã nhắc tới trên biểu đồ MTF, có 2 dạng đường thẳng hướng tâm (đường S) và vuông góc hướng tâm (đường M) được dùng để đánh giá chất lượng quang học của ống kính và lý do người ta phải so sánh mức độ thể hiện lại hình ảnh của 2 nhóm đường trên là vì chúng có thể biểu hiện khác nhau khi ánh sáng đi qua hệ thấu kính. Trong trường hợp cong trường nét nói tới ở trên, chúng ta không nhắc tới 2 đường S và M vì chúng có biểu hiện giống nhau, thể hiện qua một đường cong duy nhất của trường nét. Tuy nhiên trong thực tế, phụ thuộc vào hướng của chi tiết trên hình (gần S hay gần M) mà đường cong trường nét có thể khác nhau dẫn tới hiện tượng loạn thị.

   Hình dưới đây là minh họa rất rõ cho biểu hiện của ống kính loạn thị: khi lấy nét vào bánh xe tròn thì ống kính không bị loạn thị có thể lấy nét rất cả chi tiết, trong khi ống loạn thị lấy nét vào đường hướng tâm (sagittal focus) thì có hiện tượng mờ, xoáy với chi tiết chạy theo đường tròn ở tâm hình và vành bánh xe. Ngược lại, khi ống loạn thị lấy nét vào đường tròn (tangential focus) thì các đường hướng tâm bị mờ.
   Còn đây là hệ quả tác động tới bokeh của hình trong 2 trường hợp: loạn thị hướng vuông góc đường hướng tâm (tangential astigmatism) và loạn thị hướng tâm (sagittal astigmatism). Đây là dạng bokeh đặc trưng của 2 loại ống kính tận dụng lỗi quang học làm đặc trưng cho hiệu ứng nghệ thuật: Lensbaby (bên trái) và Petzval / Helios (bên phải). Chúng ta có thể gọi hiệu ứng loạn thị hướng tâm là hiệu ứng zoom còn hiệu ứng còn lại là hiệu ứng xoáy.
   Hiệu ứng zoom của ống Lensbaby Spark
   Hiệu ứng xoáy của Helios 44-2
   Hãy cùng phân tích biểu đồ MTF của ống kính New Petzval 58mm f/1.9 để nhận biết hiệu ứng xoáy của ống kính này. Hình dưới đây là biểu đồ MTF tại f/2.8 do hãng LOMO cung cấp. Trong trường hợp này biểu đồ MTF có 4 đường (5, 10, 20, 40 lp/mm) và hai đường mật độ thấp được dùng để đánh giá độ tương phản, hai đường mật độ cao dùng để đánh giá độ phân giải. Nhìn chung độ phân giải của ống kính khá thấp và giảm rất nhanh về phía rìa. Nếu để ý phần giữa khung hình, đường S (nét liền) hạ xuống rất thấp trong khi đường M  (nét rời) vẫn giữ giá trị trung bình, điều này có nghĩa là ống kính sẽ bị xoáy nặng ở gần trung tâm và giảm mức độ ở sát biên hình. Hiệu ứng này được hãng tăng cường qua các mức độ xoáy khác nhau có thể chỉnh được ngay trên thân ống kính.  
   Một số lưu ý khi phân tích biểu đồ MTF:

   1. Chỉ nên so sánh biểu đồ MTF của các ống kính khác nhau do cùng một hãng cung cấp và tốt nhất là ở cùng khẩu độ vì phương pháp xây dựng biểu đồ của từng hãng là khác nhau do các yếu tố như loại cảm biến, ánh sáng, phân bổ các nhóm đường thẳng có thể khác nhau.

   2. Thông thường các hãng có thể cung cấp biểu đồ MTF phức tạp hơn, bao gồm đường đồ thị xây dựng với các khẩu độ khác nhau (như khẩu độ lớn nhất và khẩu độ có độ phân giải tốt nhất) nên biểu đồ MTF có thể có 8 đường khác nhau hoặc nhiều hơn.

   3. Đường S thường được thể hiện bằng nét liền nhưng đôi khi lại thể hiện bằng nét đứt, bạn nên đọc kỹ ghi chú của hãng cung cấp biểu đồ.

   4. Đơn vị lp/mm được sử dụng phổ biến với máy film nhưng đơn vị lw/ph (line width/photo height - độ dày đường thẳng/chiều cao hình) hay được dùng cho cảm biến điện tử do kích thước cảm biến có thể rất khác nhau tùy hãng. Công thức tính lw/ph = 2 x lp/mm x chiều cao hình (tính bằng mm).

   5. Một số nhóm đánh giá ống kính như ePHOTOzine không sử dụng dạng đồ thị như trên mà chỉ đo độ phân giải khi thay đổi khẩu độ ống kính (tính bằng lw/ph) và thể hiện dưới dạng biểu đồ cột với giá trị trục ngang là khẩu độ, giá trị trục dọc là độ phân giải tại khẩu độ đó, đo tại các điểm khác nhau như trung tâm (center), vùng trung gian giữa trung tâm và rìa (mid-range), vùng rìa hình (edge).

   6. Giới hạn của biểu đồ MTF là không phản ánh được một số tính chất quan trọng của ống kính như quang sai màu, độ méo hình và khả năng chống lóa (flare).
    Trong bài có sử dụng hình minh họa từ trang photographylife.com, handprint.com, lomography.com, lensbaby.com và dpreview.com.
Dr. Fox
Bài viết được biên tập bởi Dr. Fox
Nghiêm cấm sử dụng lại trên các trang web và ấn phẩm khác
Bài viết mới

Vsion.vn

By Vsion team 11 Aug, 2017
   Thẻ nhớ cho máy ảnh là một phần rất quan trọng giúp máy ảnh của bạn hoạt động hiệu quả hơn và cũng là một trong những nhân tố chính giới hạn tốc độ làm việc của người chụp, tuy nhiên đôi lúc vấn đề này không được quan tâm đúng mức đã vô tình khiến bạn gặp phải những cản trở không đáng có khi tác nghiệp. Trong bài viết này, Vsion sẽ giúp các bạn hiểu hơn về các loại thẻ nhớ cho máy ảnh và làm sao bạn có thể tự xác định được loại thẻ nhớ nào phù hợp với máy ảnh của mình trước khi quyết định mua.
By Vsion team 25 Jul, 2017
   Tiếp theo video đầu tiên về Lịch sử phát triển và cơ sở khoa học của ống kính máy ảnh  và video thứ hai về Các đặc điểm của ống kính máy ảnh , trong video này John Hess của FilmmakerIQ.com sẽ có một bài giảng về hai vấn đề mà ngày nay những người yêu nhiếp ảnh vẫn hay tranh cãi với nhau: độ sâu trường ảnh và quy đổi tương đương ống kính giữa các hệ máy có cảm biến kích thước khác nhau. Lâu nay những người đam mê nhiếp ảnh rất dễ tranh cãi với nhau về những vấn đề như DOF ở trường hợp nào mỏng hơn, hay khi quy đổi tương đương ống kính giữa các hệ máy khác nhau thì chúng ta cần tính tới các yếu tố nào. Hy vọng bài giảng sẽ giúp các bạn hiểu được chính xác các vấn đề này.

   Những khái niệm mà các bạn sẽ được làm quen trong video này bao gồm:

  • Depth of field : độ sâu trường ảnh , được định nghĩa là khoảng cách phía trước và phía sau mặt phẳng nét mà có độ nét "chấp nhận được"
  • Depth of focus : độ sâu tiêu cự , được định nghĩa là khoảng cách phía sau ống kính mà bạn có thể di chuyển cảm biến để ảnh vẫn được coi là nét.
  • Nodal point : tiêu điểm của ống kính , hay còn được gọi là Entrance pupil , là một vị trí trong ống kính khi các tia sáng đi vào ống kính hội tụ lại.
  • Light cone: nón ánh sáng . Đây là tập hợp các tia sáng sau khi đi qua thấu kính / ống kính hội tụ lại và tạo thành hình nón với vị trí trên chóp chỉ là một điểm nét hội tụ duy nhất.
  • Circle of Confusion : chúng tôi tạm dịch là Vòng tròn không rõ ràng , nhưng cách tốt nhất là chúng ta dùng tên viết tắt CoC . Về hiện tượng, CoC là vòng tròn xuất hiện trên bề mặt nhận hình ảnh (sensor) khi nón ánh sáng cắt bề mặt nhận hình ảnh, và khi vị trí tiếp xúc chỉ tạo một điểm sáng thì gọi là nét (như trong hình dưới). CoC dùng để xác định DOF, nó quy định kích thước nhỏ nhất của vòng tròn này để có thể phân biệt nó với 1 điểm sáng duy nhất, hay nói cách khác là vòng tròn nhỏ hơn giá trị CoC sẽ đều được nhận biết như một điểm sáng có kích thước bằng nhau.
  • Crop factor : hệ số crop hay hệ số cắt hình . Đây là tỷ lệ giữa đường chéo cảm biến full frame chia cho đường chéo loại cảm biến đang xét tới. Ví dụ như máy crop APS-C của Canon có crop factor 1.6, nghĩa là đường chéo sensor full frame sẽ dài hơn đường chéo sensor này 1.6 lần.
By Vsion team 24 Jul, 2017
   Mới đây công ty Samyang của Hàn Quốc đã công bố ống kính AF thứ ba của hãng dành cho máy ảnh full frame ngàm E của Sony sau hai ống AF 50mm f/1.4 và 14mm f/2.8: Samyang AF 35mm f/2.8 . Mặc dù có khá nhiều thành công với các ống kính lấy nét tay (MF) song hai ống kính đầu tiên có khả năng lấy nét tự động của hãng chưa được hưởng ứng nhiều từ người tiêu dùng. Điều này cũng giống như thế hệ đầu các ống kính MF Samyang từng chế tạo và sau đó hãng đã liên tục cải tiến để làm thỏa mãn người dùng để đạt tới bước phát triển như ngày nay. Ống kính AF 35mm f/2.8 có thể coi là bản cạnh tranh trực tiếp với Sony Sonnar T* 35mm f/2.8 ZA vì không những giống về tiêu cự, khẩu độ, thiết kế của Samyang cũng rất giống cách Sony-Zeiss làm. Ở mức giá $399 cho thị trường Mỹ, xấp xỉ $310 cho thị trường Hàn Quốc hay $330 cho thị trường một số nước như Việt Nam, ống kính mới này của Samyang thậm chí còn rẻ hơn giá ống kính Sonnar đã qua sử dụng (khoảng $500).

   Một điều đáng tiếc là trong thời gian hơn 1 tuần kiểm nghiệm sản phẩm, Vsion không có trong tay ống kính Sonnar để so sánh, tuy nhiên Samyang AF sẽ được so sánh chất lượng với ống kính Samyang MF 35mm f/1.4 và Sigma Art 35mm f/1.4 DG HSM (ngàm Canon EF). Trong bài đánh giá này, chúng tôi cũng có thể so sánh gián tiếp Samyang AF và Sonnar, cũng như cung cấp các video so sánh do các reviewers khác cung cấp để các bạn có được đánh giá toàn diện về ống kính này.

   LƯU Ý: về màu sắc hiện nay trang web của Vsion có màu kém tươi hơn hình gốc khá rõ nên để có đánh giá gần thực tế nhất, khi xem các ảnh cần lưu tâm màu, các bạn click vào ảnh để xem hình trên Flickr. Mong bạn đọc thông cảm vì đây là tiêu chuẩn của nhà cung cấp nên Vsion không thể can thiệp được. 
By Vsion team 20 Jul, 2017
   Đây là bài viết tiếp theo của Vsion về đánh giá chất lượng các ống kính SLR Magic ngàm E dành cho máy không gương lật của Sony. Các bạn có thể tham khảo bài đánh giá trước về ống kính SLR Magic 25mm f/1.4 CINE của Vsion để hiểu hơn về một số nội dung được đề cập tới trong bài viết này.

   Tiếp theo 25mm f/1.4, mình xin giới thiệu tới các bạn 2 ống kính khác trong series ống kính lấy nét tay mới của SLR Magic (Hong Kong): 35mm f/1.2 CINE và 75mm f/1.4 CINE. Trong series này còn có ống kính SLR Magic 50mm f/1.1 CINE, tuy nhiên Vsion chưa có được ống kính này để có đánh giá. Hai ống kính 35mm và 75mm này được công ty gửi tới cho mình dùng thử trong vòng 1 tháng sau khi có những phản hồi tích cực về bài đánh giá trước với ống kính 25mm f/1.4. 

   Lần này, không những mình sẽ đánh giá kỹ hơn hai ống kính mà còn có một phần rất quan trọng, đó là so sánh trực tiếp ở tất cả các tiêu chí hai ống kính này với 2 ống kính có tiêu cự tương đương hoặc gần của Samyang / Rokinon (Hàn Quốc) là ống kính 35mm f/1.4 và 85mm f/1.4. Hai ống kính Samyang này đều có bản cine với thiết kế vỏ thay đổi để phù hợp với sử dụng trong quay phim: vòng lấy nét bánh răng, vòng khẩu bánh răng đã loại bỏ tiếng click (declicked) và kiểm soát chất lượng tốt hơn, tuy nhiên dù là phiên bản thường hay phiên bản cine, các cặp ống kính này đều có chung thiết kế quang học, nên về cơ bản là có chất lượng quang học giống hệt nhau. Các ống kính cine của SLR Magic thì không có phiên bản thường mà đều là ống kính cine và nhắm tới thị trường thiết bị quay phim vốn có yêu cầu cao hơn thị trường ống kính nhiếp ảnh. Một điểm quan trọng là các ống kính mới này của SLR Magic đều có thiết kế chuyên biệt cho hệ thống máy không gương lật ngàm E của Sony, tận dụng khoảng cách buồng tối (flange distance) nhỏ để giảm kích thước của hệ thấu kính. Chính vì thế, một lợi thế lớn của các ống kính này là kích thước rất gọn so với các ống kính Samyang vốn được thiết kế để dùng chủ yếu cho các máy DSLR có khoảng cách buồng tối lớn. Như ở hình đầu trang, các bạn có thể thấy SLR Magic 35mm f/1.2 (cặp ống kính bên trái) chỉ bằng nửa kích thước ống kính Samyang 35mm f/1.4, mặc dù nó còn có khẩu độ lớn hơn khoảng 1/3 stop.

   Các ống kính MF của Samyang đang ngày càng trở nên thịnh hành hơn, đặc biệt với người dùng mirrorless do có hỗ trợ focus peaking hay phóng đại vùng chọn để lấy nét rất đơn giản mà mức giá lại vừa túi tiền với nhiều người. Tuy nhiên Samyang cũng có một số vấn đề như kích thước lớn hay khả năng chống flare kém và chất lượng chế tạo không thực sự đồng đều (ống kính dễ gặp lỗi do chất lượng chế tạo kém). Chính vì thế, việc so sánh các sản phẩm này của SLR Magic với Samyang có thể cung cấp những cơ sở mới cho người dùng có được lựa chọn phù hợp với khả năng và túi tiền.
By Vsion team 13 Jul, 2017

   Sự phơi sáng trong nhiếp ảnh được kiểm soát bởi 3 yếu tố: tốc độ màn trập, khẩu độ ống kính và giá trị ISO. "Stop" giúp bạn so sánh trực tiếp và thay đổi 3 yếu tố này để đạt được lượng ánh sáng phù hợp nhất cho bức ảnh của mình. Trong nhiếp ảnh, khi nói đến "stop", nhiều người mới bắt đầu rất hay hiểu nhầm và cảm thấy nó quá phức tạp. Tuy nhiên, trên thực tế, "stop" lại rất đơn giản, dễ nắm bắt và kiểm soát:

   1 stop là là giá trị thể hiện khi tăng gấp đôi (x 2) hoặc giảm một nửa (: 2) số lượng ánh sáng đi vào khi chụp một bức ảnh.

   Ví dụ, khi bạn nghe thấy một người nói anh ta sẽ tăng giá trị ánh sáng lên 1 stop, tức là anh ta muốn tăng gấp đôi lượng ánh sáng so với bức ảnh được chụp trước đó.

By Vsion team 13 Jul, 2017

   Bạn đã từng nhìn thấy 2 bức ảnh trên bao giờ chưa? Nếu là người đam mê ảnh, chắc chắn bạn phải từng nhìn thấy ít nhất là một lần phải không? Đó là 2 bức ảnh chiến thắng của năm 20152016 trong cuộc thi Ảnh Hài Hước về Động Vật Hoang Dã (Comedy Wildlife Photography Awards). Mặc dù đi theo xu hướng hài hước, nhưng Giải thưởng này không chỉ mang tính giải trí, nó còn có tính nghệ thuật, sự thách thức và cả ý nghĩa nhân văn. Nhiếp ảnh gia Paul Joynson-Hicks và Tom Sullam, 2 người sáng lập ra giải thưởng này chia sẻ:

   "2 năm vừa qua đã có rất nhiều bức ảnh tuyệt vời tham dự cuộc thi. Và năm nay chúng tôi cũng muốn được nhìn thấy thêm nhiều bức ảnh về thế giới động vật hơn nữa. Hãy vác máy và đi chụp, ở bất kỳ đâu... kể cả một chú sóc cũng có thể giúp bạn chiến thắng. Thông qua cuộc thi, chúng tôi cũng muốn nâng cao nhận thức của cộng đồng về việc bảo tồn động vật, do vậy, dù bạn ở bất cứ đâu, hãy giúp chúng tôi bằng cách vác máy ra ngoài và chụp những loài động vật hoang dã mà bạn yêu thích!"

   Hạn cuối cho cuộc thi năm nay là ngày 30/9. Có rất nhiều bức ảnh tuyệt vời đã được gửi đến. Mời bạn thử ngó qua một trong những ứng cử viên nặng ký sau nhé:

More Posts
Share by: