F-stop hay T-stop?

  • By Vsion team
  • 04 Jan, 2017
   Với người chuyên quay phim thì vấn đề này họ đã nắm rõ như trong lòng bàn tay, nhưng với người chuyên chụp ảnh thôi thì đôi khi F-stop hay T-stop vẫn khiến mọi người nhầm lẫn, nhất là với người mới bắt đầu chụp. Chính vì vậy, bài viết này của Vsion muốn giúp các bạn phân biệt rõ hai khái niệm này và lúc nào thì chúng ta cần quan tâm tới.
 
    F-stop của một hệ thấu kính được định nghĩa là tỷ lệ của tiêu cự (focal length) chia cho đường kính cửa nhận sáng ( entrance pupil ). Với hệ quang học chỉ có một thấu kính và không có lỗ khẩu (aperture) thì đường kính cửa nhận sáng chính bằng đường kính của thấu kính. Khi có thêm lỗ khẩu thì đường kính cửa nhận sáng bằng đường kính của hình ảnh lỗ khẩu nhìn qua thấu kính trước và có thể giảm nếu lỗ khẩu đóng lại hay chúng ta vẫn gọi là hạ khẩu độ. Đường kính cửa nhận sáng là một giá trị ảo vì nó có thể không bằng đường kính lỗ khẩu do hiệu ứng khuếch đại hình khi nhìn qua thấu kính trước của ống kính.
   Công thức tính F-stop: N = f / D
trong đó N là khẩu độ F-stop, f là tiêu cự ống kính, D là đường kính cửa nhận sáng. F-stop thường được quy ước viết dưới dạng (f/giá trị N). Ví dụ như với tiêu cự ống kính là 50 mm và đường kính cửa nhận sáng là 25 mm thì giá trị F-stop là 50 mm / 25 mm = 2 và được biểu diễn dưới dạng f/2. Lưu ý là trong tiếng Việt khi chúng ta nói tới khẩu độ là chúng ta nói tới f/N, tức là f/1.2 gọi là khẩu độ lớn và f/2 gọi là khẩu độ nhỏ.

   Từ công thức này các bạn có thể nhận thấy là nếu cùng một giá trị F-stop thì ống kính tiêu cự càng dài sẽ kéo theo đường kính cửa nhận sáng càng lớn, đồng nghĩa với thấu kính trước (và kéo theo cả các thấu kính còn lại trong ống kính) cũng tăng đường kính. Vì vậy nên các ống kính có tiêu cự dài thường khó có khẩu độ lớn f/1.8, f/1.4... như các ống kính tiêu cự ngắn.
   Bên cạnh đó, bạn sẽ thấy là N tỷ lệ nghịch với D hay f/N thì tỷ lệ thuận với D nên cùng một tiêu cự, ống kính có khẩu độ càng lớn thì kéo theo đường kính lỗ khẩu và các thấu kính càng lớn. Vì vậy, giới hạn về kích thước là lý do các ống kính khó có thể đạt tới khẩu độ f/1 hoặc cao hơn.

   Điểm quan trọng nhất mình muốn phân tích ở đây sẽ liên quan tới T-stop. Theo công thức trên ví dụ như cùng một khẩu độ f/2 thì ống kính 100 mm có đường kính cửa nhận sáng là 50 mm, còn ống kính 50 mm có đường kính cửa nhận sáng là 25 mm. Vì diện tích cửa nhận sáng được tính theo bình phương bán kính nên ống kính có đường kính cửa nhận sáng lớn gấp đôi sẽ nhận ánh sáng nhiều gấp 4. Tuy nhiên ống kính 25 mm có góc nhìn gấp đôi theo cả chiều ngang và chiều dọc so với ống kính 50 mm nên diện tích phát sáng cũng cao gấp 4 lần ống kính 50 mm. Hai yếu tố này bù trừ cho nhau làm cho 2 ống kính dù khác tiêu cự vẫn nhận được lượng sáng như nhau nếu chúng có cùng khẩu độ (trong điều kiện cùng một sensor hoặc diện tích mặt film). Các bạn có thể tự kiểm nghiệm lại hoặc qua hình ở dưới: mức độ sáng của 3 ảnh gần như nhau mặc dù chúng được chụp bằng ống kính khác tiêu cự nhưng ở cùng khẩu độ. Để ý phần hậu cảnh chụp bằng 2 ống tele 85mm và 135mm thì thực ra đó chỉ là một phần hình ảnh hậu cảnh chụp bằng ống kính 50mm tức là diện tích phát sáng nhỏ hơn.
   Kết luận trên sẽ chỉ đúng nếu ánh sáng đi qua 2 ống kính đó không bị mất mát hoặc giảm với một lượng như nhau. Do thiết kế ống kính bao gồm nhiều thấu kính và các bề mặt gương tiếp giáp với nhau bên trong ống kính nên có một phần ánh sáng khi đi qua ống kính bị phản xạ ngược lại hoặc bị hấp thụ, và các yếu tố này khác nhau tùy ống kính. Để tính được chính xác lượng ánh sáng nhận được với từng ống kính, nhất là khi quay phim với yêu cầu cao về độ ổn định ánh sáng giữa các cảnh quay, thông số T-stop được ra đời. T là viết tắt của từ transmission, nghĩa là "đi qua" hay lượng ánh sáng đi qua ống kính và T-stop được dùng để chỉ lượng ánh sáng đi qua ống kính tương ứng với giá trị khẩu độ.

    Công thức tính T = N / √ (hiệu suất truyền dẫn quang học)
   
   Ví dụ ống kính f/2 có hiệu suất truyền dẫn quang học 75% (tức là 75% ánh sáng còn lại sau khi đi qua ống kính) thì có giá trị T-stop là 2 / √0.75 = 2.31 hay được ghi là T2.3 trên ống kính (nếu có).

   T-stop thường không được xác định với các ống kính chụp ảnh vì những lý do sau:
  •     Khác biệt về ánh sáng thường không lớn quá 1/3 stop nên không dẫn tới thay đổi lớn về ánh sáng và khác biệt này thông thường thay đổi nhỏ các máy ảnh có thể tự nhận ra và cân bằng lại hoặc nhiều hơn thì có thể xử lý bằng cách tăng giảm bù sáng hay hậu kỳ.
  •    Chi phí và thời gian sản xuất sẽ tăng do T-stop cần được xác định với từng ống kính và yêu cầu chất liệu sản xuất ống kính có độ sai lệch thấp. Vì lý do ở trên nên các nhà sản xuất không thấy cần phải đầu tư thêm tiền vào để xác định T-stop.
   Đối với quay phim, yêu cầu xác định T-stop của các ống kính cao và chính xác do công việc này thường kéo dài qua nhiều ngày, ở nhiều điều kiện ánh sáng thay đổi phức tạp và nhiều ống kính khác nhau nên kiểm soát chính xác ánh sáng qua từng cảnh quay sẽ tiết kiệm được chi phí và thời gian hậu kỳ. Do yêu cầu xác định chính xác T-stop với từng ống kính và sai khác giữa các ống kính gần như là không có nên ống kính cine được ghi chú giá trị T-stop và thường rất đắt so với ống kính chụp ảnh thông thường (ngoài ra còn do các yếu tố khác về cấu tạo ống kính mà khi có dịp chúng tôi sẽ nhắc đến sau).
   Nói như vậy cũng không có nghĩa là người chụp ảnh không cần quan tâm tới giá trị T-stop, nó vẫn có ý nghĩa trong một vài trường hợp. Với chụp ảnh thiếu sáng, T-stop của một ống kính sẽ quan trọng để xác định tốc độ tối thiểu và ISO tối thiểu của máy để đảm bảo ảnh đủ sáng. Hai ống kính có cùng khẩu độ nhưng có thể T-stop khác nhau sẽ ảnh hưởng tới chuyện bạn sẽ cân nhắc ống kính nào để chụp những tấm ảnh có yêu cầu ánh sáng nhất định. Ví dụ như ống Zeiss Otus 55mm f/1.4 có T-stop là T1.5 trong khi Otus 85mm f/1.4 có T-stop là T1.7. Công thức thấu kính phức tạp có nhiều thấu kính hơn cũng là một phần khiến giá trị T-stop giảm nhiều hơn ở Otus 85mm.  

   Trừ những trường hợp đặc biệt như ống kính STF ( Smooth Trans Focus ) có kính lọc Apodization nằm ngay trong ống kính làm giảm ánh sáng tới sensor thì khác biệt giữa T-stop và F-stop của một ống kính phản ánh một phần chất lượng kính và lớp tráng phủ (coating). Khi ống kính không sử dụng lớp tráng phủ trên các thấu kính, mỗi bề mặt thấu kính sẽ phản xạ lại trung bình 4% lượng ánh sáng và trung bình một ống kính sẽ bị mất 38% ánh sáng nếu không có tráng phủ và thậm chí với ống kính phức tạp con số này có thể lên tới 70%. Nhờ có công nghệ tráng phủ, trong những năm 1935, công nghệ tráng phủ làm giảm phản xạ 4% xuống 1% trên mỗi bề mặt kính và tỷ lệ ánh sáng bị mất qua mỗi ống kính giảm xuống 12% (27% với ống kính phức tạp). Ngày nay, công nghệ hiện đại có thể giảm tới 99.9% ánh sáng phản xạ nên hai con số này chỉ còn khoảng 2% và 3%. Chính vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên nếu bạn thấy 2 ống kính 50mm f/1.4 mà có thể khác biệt về giá lên tới vài lần do khác biệt tiền đầu tư vào công nghệ chế tạo và độ chính xác cao. Mặt khác, với các ống kính hiện đại, do chất lượng đều đã đạt tới mức cao, bạn có thể phải chi trả thêm rất nhiều tiền để tăng thêm chất lượng ống kính dù rất ít, thậm chí khó có thể nhận ra trong điều kiện chụp thông thường.
   Theo kinh nghiệm sử dụng của mình, các bạn có thể dễ gặp các trường hợp ống kính sáng tối khác nhau dù cùng khẩu độ, nhất là với các ống kính cổ. Điều này có thể giải thích do thời gian và cường độ sử dụng đã làm giảm chất lượng ống kính như lớp tráng phủ bị mài mòn hay hiện tượng mờ bên trong ống kính. Các ống kính cùng tiêu cự nhưng khác khẩu độ của cùng một hãng thì thường ống kính có khẩu độ lớn hơn khi hạ xuống cùng khẩu độ với các ống kính có khẩu độ nhỏ hơn (ví dụ như ống kính Pentax SMC M 50mm f/1.2 khi hạ xuống f/1.4 và so với ống kính Pentax SMC M 50mm f/1.4 ở f/1.4) thì ống kính khẩu lớn thường sáng hơn. Điều này phản ánh chất lượng thấu kính và tráng phủ với những ống kính khẩu lớn của một hãng (thường được coi là ống kính cao cấp hơn) thường cao hơn chứ không chỉ đơn giản là bạn được khẩu độ lớn hơn.
Dr. Fox
Bài viết được biên tập bởi Dr. Fox
Nghiêm cấm sử dụng lại nếu không được sự đồng ý của tác giả
Bài viết mới

Vsion.vn

By Vsion team 11 Aug, 2017
   Thẻ nhớ cho máy ảnh là một phần rất quan trọng giúp máy ảnh của bạn hoạt động hiệu quả hơn và cũng là một trong những nhân tố chính giới hạn tốc độ làm việc của người chụp, tuy nhiên đôi lúc vấn đề này không được quan tâm đúng mức đã vô tình khiến bạn gặp phải những cản trở không đáng có khi tác nghiệp. Trong bài viết này, Vsion sẽ giúp các bạn hiểu hơn về các loại thẻ nhớ cho máy ảnh và làm sao bạn có thể tự xác định được loại thẻ nhớ nào phù hợp với máy ảnh của mình trước khi quyết định mua.
By Vsion team 25 Jul, 2017
   Tiếp theo video đầu tiên về Lịch sử phát triển và cơ sở khoa học của ống kính máy ảnh  và video thứ hai về Các đặc điểm của ống kính máy ảnh , trong video này John Hess của FilmmakerIQ.com sẽ có một bài giảng về hai vấn đề mà ngày nay những người yêu nhiếp ảnh vẫn hay tranh cãi với nhau: độ sâu trường ảnh và quy đổi tương đương ống kính giữa các hệ máy có cảm biến kích thước khác nhau. Lâu nay những người đam mê nhiếp ảnh rất dễ tranh cãi với nhau về những vấn đề như DOF ở trường hợp nào mỏng hơn, hay khi quy đổi tương đương ống kính giữa các hệ máy khác nhau thì chúng ta cần tính tới các yếu tố nào. Hy vọng bài giảng sẽ giúp các bạn hiểu được chính xác các vấn đề này.

   Những khái niệm mà các bạn sẽ được làm quen trong video này bao gồm:

  • Depth of field : độ sâu trường ảnh , được định nghĩa là khoảng cách phía trước và phía sau mặt phẳng nét mà có độ nét "chấp nhận được"
  • Depth of focus : độ sâu tiêu cự , được định nghĩa là khoảng cách phía sau ống kính mà bạn có thể di chuyển cảm biến để ảnh vẫn được coi là nét.
  • Nodal point : tiêu điểm của ống kính , hay còn được gọi là Entrance pupil , là một vị trí trong ống kính khi các tia sáng đi vào ống kính hội tụ lại.
  • Light cone: nón ánh sáng . Đây là tập hợp các tia sáng sau khi đi qua thấu kính / ống kính hội tụ lại và tạo thành hình nón với vị trí trên chóp chỉ là một điểm nét hội tụ duy nhất.
  • Circle of Confusion : chúng tôi tạm dịch là Vòng tròn không rõ ràng , nhưng cách tốt nhất là chúng ta dùng tên viết tắt CoC . Về hiện tượng, CoC là vòng tròn xuất hiện trên bề mặt nhận hình ảnh (sensor) khi nón ánh sáng cắt bề mặt nhận hình ảnh, và khi vị trí tiếp xúc chỉ tạo một điểm sáng thì gọi là nét (như trong hình dưới). CoC dùng để xác định DOF, nó quy định kích thước nhỏ nhất của vòng tròn này để có thể phân biệt nó với 1 điểm sáng duy nhất, hay nói cách khác là vòng tròn nhỏ hơn giá trị CoC sẽ đều được nhận biết như một điểm sáng có kích thước bằng nhau.
  • Crop factor : hệ số crop hay hệ số cắt hình . Đây là tỷ lệ giữa đường chéo cảm biến full frame chia cho đường chéo loại cảm biến đang xét tới. Ví dụ như máy crop APS-C của Canon có crop factor 1.6, nghĩa là đường chéo sensor full frame sẽ dài hơn đường chéo sensor này 1.6 lần.
By Vsion team 24 Jul, 2017
   Mới đây công ty Samyang của Hàn Quốc đã công bố ống kính AF thứ ba của hãng dành cho máy ảnh full frame ngàm E của Sony sau hai ống AF 50mm f/1.4 và 14mm f/2.8: Samyang AF 35mm f/2.8 . Mặc dù có khá nhiều thành công với các ống kính lấy nét tay (MF) song hai ống kính đầu tiên có khả năng lấy nét tự động của hãng chưa được hưởng ứng nhiều từ người tiêu dùng. Điều này cũng giống như thế hệ đầu các ống kính MF Samyang từng chế tạo và sau đó hãng đã liên tục cải tiến để làm thỏa mãn người dùng để đạt tới bước phát triển như ngày nay. Ống kính AF 35mm f/2.8 có thể coi là bản cạnh tranh trực tiếp với Sony Sonnar T* 35mm f/2.8 ZA vì không những giống về tiêu cự, khẩu độ, thiết kế của Samyang cũng rất giống cách Sony-Zeiss làm. Ở mức giá $399 cho thị trường Mỹ, xấp xỉ $310 cho thị trường Hàn Quốc hay $330 cho thị trường một số nước như Việt Nam, ống kính mới này của Samyang thậm chí còn rẻ hơn giá ống kính Sonnar đã qua sử dụng (khoảng $500).

   Một điều đáng tiếc là trong thời gian hơn 1 tuần kiểm nghiệm sản phẩm, Vsion không có trong tay ống kính Sonnar để so sánh, tuy nhiên Samyang AF sẽ được so sánh chất lượng với ống kính Samyang MF 35mm f/1.4 và Sigma Art 35mm f/1.4 DG HSM (ngàm Canon EF). Trong bài đánh giá này, chúng tôi cũng có thể so sánh gián tiếp Samyang AF và Sonnar, cũng như cung cấp các video so sánh do các reviewers khác cung cấp để các bạn có được đánh giá toàn diện về ống kính này.

   LƯU Ý: về màu sắc hiện nay trang web của Vsion có màu kém tươi hơn hình gốc khá rõ nên để có đánh giá gần thực tế nhất, khi xem các ảnh cần lưu tâm màu, các bạn click vào ảnh để xem hình trên Flickr. Mong bạn đọc thông cảm vì đây là tiêu chuẩn của nhà cung cấp nên Vsion không thể can thiệp được. 
By Vsion team 20 Jul, 2017
   Đây là bài viết tiếp theo của Vsion về đánh giá chất lượng các ống kính SLR Magic ngàm E dành cho máy không gương lật của Sony. Các bạn có thể tham khảo bài đánh giá trước về ống kính SLR Magic 25mm f/1.4 CINE của Vsion để hiểu hơn về một số nội dung được đề cập tới trong bài viết này.

   Tiếp theo 25mm f/1.4, mình xin giới thiệu tới các bạn 2 ống kính khác trong series ống kính lấy nét tay mới của SLR Magic (Hong Kong): 35mm f/1.2 CINE và 75mm f/1.4 CINE. Trong series này còn có ống kính SLR Magic 50mm f/1.1 CINE, tuy nhiên Vsion chưa có được ống kính này để có đánh giá. Hai ống kính 35mm và 75mm này được công ty gửi tới cho mình dùng thử trong vòng 1 tháng sau khi có những phản hồi tích cực về bài đánh giá trước với ống kính 25mm f/1.4. 

   Lần này, không những mình sẽ đánh giá kỹ hơn hai ống kính mà còn có một phần rất quan trọng, đó là so sánh trực tiếp ở tất cả các tiêu chí hai ống kính này với 2 ống kính có tiêu cự tương đương hoặc gần của Samyang / Rokinon (Hàn Quốc) là ống kính 35mm f/1.4 và 85mm f/1.4. Hai ống kính Samyang này đều có bản cine với thiết kế vỏ thay đổi để phù hợp với sử dụng trong quay phim: vòng lấy nét bánh răng, vòng khẩu bánh răng đã loại bỏ tiếng click (declicked) và kiểm soát chất lượng tốt hơn, tuy nhiên dù là phiên bản thường hay phiên bản cine, các cặp ống kính này đều có chung thiết kế quang học, nên về cơ bản là có chất lượng quang học giống hệt nhau. Các ống kính cine của SLR Magic thì không có phiên bản thường mà đều là ống kính cine và nhắm tới thị trường thiết bị quay phim vốn có yêu cầu cao hơn thị trường ống kính nhiếp ảnh. Một điểm quan trọng là các ống kính mới này của SLR Magic đều có thiết kế chuyên biệt cho hệ thống máy không gương lật ngàm E của Sony, tận dụng khoảng cách buồng tối (flange distance) nhỏ để giảm kích thước của hệ thấu kính. Chính vì thế, một lợi thế lớn của các ống kính này là kích thước rất gọn so với các ống kính Samyang vốn được thiết kế để dùng chủ yếu cho các máy DSLR có khoảng cách buồng tối lớn. Như ở hình đầu trang, các bạn có thể thấy SLR Magic 35mm f/1.2 (cặp ống kính bên trái) chỉ bằng nửa kích thước ống kính Samyang 35mm f/1.4, mặc dù nó còn có khẩu độ lớn hơn khoảng 1/3 stop.

   Các ống kính MF của Samyang đang ngày càng trở nên thịnh hành hơn, đặc biệt với người dùng mirrorless do có hỗ trợ focus peaking hay phóng đại vùng chọn để lấy nét rất đơn giản mà mức giá lại vừa túi tiền với nhiều người. Tuy nhiên Samyang cũng có một số vấn đề như kích thước lớn hay khả năng chống flare kém và chất lượng chế tạo không thực sự đồng đều (ống kính dễ gặp lỗi do chất lượng chế tạo kém). Chính vì thế, việc so sánh các sản phẩm này của SLR Magic với Samyang có thể cung cấp những cơ sở mới cho người dùng có được lựa chọn phù hợp với khả năng và túi tiền.
By Vsion team 13 Jul, 2017

   Sự phơi sáng trong nhiếp ảnh được kiểm soát bởi 3 yếu tố: tốc độ màn trập, khẩu độ ống kính và giá trị ISO. "Stop" giúp bạn so sánh trực tiếp và thay đổi 3 yếu tố này để đạt được lượng ánh sáng phù hợp nhất cho bức ảnh của mình. Trong nhiếp ảnh, khi nói đến "stop", nhiều người mới bắt đầu rất hay hiểu nhầm và cảm thấy nó quá phức tạp. Tuy nhiên, trên thực tế, "stop" lại rất đơn giản, dễ nắm bắt và kiểm soát:

   1 stop là là giá trị thể hiện khi tăng gấp đôi (x 2) hoặc giảm một nửa (: 2) số lượng ánh sáng đi vào khi chụp một bức ảnh.

   Ví dụ, khi bạn nghe thấy một người nói anh ta sẽ tăng giá trị ánh sáng lên 1 stop, tức là anh ta muốn tăng gấp đôi lượng ánh sáng so với bức ảnh được chụp trước đó.

By Vsion team 13 Jul, 2017

   Bạn đã từng nhìn thấy 2 bức ảnh trên bao giờ chưa? Nếu là người đam mê ảnh, chắc chắn bạn phải từng nhìn thấy ít nhất là một lần phải không? Đó là 2 bức ảnh chiến thắng của năm 20152016 trong cuộc thi Ảnh Hài Hước về Động Vật Hoang Dã (Comedy Wildlife Photography Awards). Mặc dù đi theo xu hướng hài hước, nhưng Giải thưởng này không chỉ mang tính giải trí, nó còn có tính nghệ thuật, sự thách thức và cả ý nghĩa nhân văn. Nhiếp ảnh gia Paul Joynson-Hicks và Tom Sullam, 2 người sáng lập ra giải thưởng này chia sẻ:

   "2 năm vừa qua đã có rất nhiều bức ảnh tuyệt vời tham dự cuộc thi. Và năm nay chúng tôi cũng muốn được nhìn thấy thêm nhiều bức ảnh về thế giới động vật hơn nữa. Hãy vác máy và đi chụp, ở bất kỳ đâu... kể cả một chú sóc cũng có thể giúp bạn chiến thắng. Thông qua cuộc thi, chúng tôi cũng muốn nâng cao nhận thức của cộng đồng về việc bảo tồn động vật, do vậy, dù bạn ở bất cứ đâu, hãy giúp chúng tôi bằng cách vác máy ra ngoài và chụp những loài động vật hoang dã mà bạn yêu thích!"

   Hạn cuối cho cuộc thi năm nay là ngày 30/9. Có rất nhiều bức ảnh tuyệt vời đã được gửi đến. Mời bạn thử ngó qua một trong những ứng cử viên nặng ký sau nhé:

More Posts
Share by: