Giới thiệu ống kính MF Nikon 105mm f/2.5

  • By Vsion team
  • 17 Apr, 2017

Hình: Máy ảnh Nikon FM2 và ống kính Nikkor 105mm f/2.5 AIS (Jasper - Flickr)

   Với người dùng Nikon và người yêu thích hệ thống máy ảnh, ống kính của Nikon nói chung, có lẽ không ai không biết tới các ống kính 105mm của hãng. Mới đây nhất, Nikon đã tung ra thị trường ống kính 105mm f/1.4, được coi là một trong những ống kính chân dung chủ lực của Nikon để cạnh tranh với các hãng khác. Quay ngược lại lịch sử phát triển của Nikon, tiêu cự 105mm đã mang về nhiều uy tín cho Nikon với người chơi ảnh và từng trở thành tiêu cự chuẩn cho chụp chân dung trong một giai đoạn phát triển dài của máy film SLR 35mm. Chắc hẳn nhiều người cũng biết tới tấm ảnh nổi tiếng "cô gái Afgan" dưới đây của nhiếp ảnh gia Steve McCurry được chụp vào năm 1984 và in trên bìa tạp chí National Geographic danh tiếng, vốn được ví như nàng Mona Lisa của thế giới thứ ba. Tấm ảnh được nhiếp ảnh gia chụp tại trại tị nạn Nasir Bagh (Afghanistan) bằng máy ảnh Nikon FM2 và ống kính Nikkor 105mm f/2.5 AIS đã làm nên tên tuổi của ông và là một câu chuyện rất nổi tiếng về ống kính 105mm này của Nikon.
   GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ỐNG KÍNH
   Là một ống kính chuyên chân dung ở tiêu cự ưa thích của nhiều nhiếp ảnh gia và khẩu độ vừa phải f/2.5, ống kính Nikkor 105mm f/2.5 không những có chất lượng hình ảnh sắc nét, bokeh dễ chịu mà còn rất nhỏ nhắn để mang đi khắp nơi. Do từng được sản xuất với số lượng lớn, hiện nay bạn có thể dễ dàng mua được ống kính này để sử dụng trên nhiều hệ máy (với mức giá khoàng 2 - 5 triệu đồng), nhất là hệ máy không gương lật với hỗ trợ lấy nét tay tốt và kích thước nhỏ gọn.

   Vì chất lượng nổi bật và vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển của Nikon, chúng tôi xin giới thiệu với các bạn về các phiên bản và đặc điểm ống kính này. Bài viết có sử dụng nguồn tài liệu và hình ảnh từ các trang web sau và chúng tôi khuyến khích các bạn đọc thêm thông tin chi tiết ở các nguồn này:

   LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ CÁC PHIÊN BẢN CỦA NIKON 105MM F/2.5

   1. Phiên bản rangefinder (giai đoạn 1951 - 1958)

   Đây là phiên bản đầu tiên của Nikon 105mm f/2.5 từ 1951 với ngàm S, ngàm Leica L39 và ngàm Contax RF (1957). Trong giai đoạn này, các ống kính vẫn được sản xuất dưới cái tên Nippon Kogaku Japan (viết tắt là NKJ) và sử dụng thiết kế Gauss với nguyên lý Sonnar của Carl Zeiss với 5 thấu kính trong 3 nhóm. Trong giai đoạn này, ống kính mang tên Nikkor-P 10.5cm 1:2.5 hoặc Nikkor-P.C. (với chữ cái C. màu đỏ biểu thị ống được tráng phủ). Chỉ trong một thời gian ngắn, sự ra đời của ống kính này đã mang lại nguồn lợi nhuận lớn cho Nikon và tiêu cự 10.5cm với khẩu f/2.5 trở thành con số đặc trưng gắn liền với ống kính Nikon.
Hình : Ống kính Nikkor.P.C 10.5cm f/2.5 với ngàm Leica LTM hay M39/L39 (1957)
   2. Phiên bản pre-AI hay non-AI (ống kính SLR, giai đoạn 1959 - 1975)  

   Thế hệ ống kính rangefinder đầu tiên được thiết kế lại để chuyển sang ngàm F dùng cho máy SLR của Nikon. Đây gọi là giai đoạn tiền AI (pre-AI) và là giai đoạn ống kính 105mm f/2.5 có nhiều biến đổi trước khi trở thành dạng AI hay AIS mà nhiều người biết tới hiện nay. Một số phiên bản pre-AI còn sử dụng thiết kế Sonnar (hình trái), tuy nhiên đến khoảng 1971-1973 ống kính này được chuyển thành thiết kế Schneider Xenotar với 5 thấu kính trong 4 nhóm (hình phải) để tăng độ nét khi chụp gần. Thiết kế này được dùng cho tất cả các phiên bản AI cho tới AIS về sau. Mặc dù không có ống kính AI nào dùng thiết kế Sonnar, một số ống kính pre-AI vẫn được chuyển ngàm sang AI nên để phân biệt chúng ta phải dựa vào thấu kính sau: thiết kế Sonnar có kính sau nhỏ còn Xenotar có kính sau lớn.
   Dưới đây là một số phiên bản pre-AI quan trọng, một số dạng khác các bạn có thể tham khảo trong gallery của Richard de Stout z
 
   Phiên bản pre-AI cho máy SLR, ngàm Nikon F, có viền trước màu bạc, thiết kế Sonnar với 9 lá khẩu (1959)
   Phiên bản pre-AI đầu tiên có viền trước đen, thiết kế Xenotar với 7 lá khẩu và có thể khép khẩu xuống f/32 (1971). Đây là giai đoạn cuối cùng của ống kính NKJ và từ 1972, các ống kính 105mm có series từ khoảng 408501 bắt đầu sử dụng tên Nikon.
   Phiên bản đen pre-AI P.C. đầu tiên (có lớp tráng phủ), thiết kế Xenotar, 7 lá khẩu, f/32 (1973). Số series bắt đầu của phiên bản này là 500001.
   Phiên bản pre-AI vòng cao su đầu tiên (1975). Phiên bản này đã rất giống ống AI về sau, tuy nhiên có thể phân biệt dựa vào khẩu độ nhỏ nhất f/32, còn ở ống kính AI thì nó là f/22.
    3. Phiên bản AI  (ống kính SLR, giai đoạn 1977 - 1980)  

   Cho tới những năm 70 của thế kỷ 20, rất nhiều người đã biết tới tên tuổi ống kính 105 mm f/2.5 của Nikon và nó vẫn là ống fix tele duy nhất Nikon đưa ra thị trường cho tới năm 1975, bản macro 105mm f/4 được giới thiệu, mang tới nhiều lựa chọn hơn cho người dùng Nikon. Tới năm 1977, Nikon thiết kế ống kính để phối hợp với khả năng đo sáng tự động của máy ảnh SLR bằng hệ thống gọi là "Automatic maximum aperture indexing" hay gọi tắt là AI. Các ống kính AI có số series từ 740001 và có thể đi kèm hood kim loại tách rời (HS-8) có thể lật ngược lại để gắn vào ống kính khi không dùng. Những ống kính AI trong thập niên 70 - 80 của thể kỷ 20 được tráng phủ với công nghệ NIC cho ra màu kính xanh lục đặc trưng của Nikon trong giai đoạn này. Mặc dù có cùng thiết kết quang học với phiên bản cuối cùng AIS, kính trước của ống kính AI có phần lớn hơn.

Hình: Ống kính Nikkor AI 105mm f/2.5 với ngàm Nikon F (ảnh chụp bởi Russell Gough® rpg@daytonadvd.com)

    4. Phiên bản AIS hay AI-S  (ống kính SLR, giai đoạn sau 1981)  

   Với sự phát triển của máy chụp film SLR, Nikon đã tích hợp khả năng điều chỉnh khẩu tự động và ống kính AI được nâng cấp lên AIS (với S có thể là viết tắt cho Shutter priority hay chế độ chụp ưu tiên tốc độ và chỉnh khẩu tự động). Phiên bản AIS không có khác biệt đáng kể so với AI ngoài một số đặc điểm sau có thể dùng để nhận biết:

  • Ống kính AIS có hood gắn liền, có thể kéo ra thu vào được.
  • Ống kính AIS có số chỉ khẩu nhỏ nhất tô màu cam để đánh dấu chức năng phơi sáng tự động AE của máy ảnh.
  • Trên ngàm của ống kính AiS có một rãnh nhỏ nằm ngay trên vị trí khóa ngàm, giúp các máy ảnh Nikon nhận ra ống kính AIS (hình dưới).
  • Một số ống kính AIS lớn có 5 ốc vít ở ngàm thay vì 3.
   Một số ống kính AIS về sau được Nikon phủ lớp SIC (Super Integrated Coating) để cải thiện độ tượng phản và khả năng chụp ngược sáng. Một số ít ống kính có lớp SIC này, có số series từ 1043xxx, luôn được người sưu tầm ống kính Nikon săn lùng với mức giá cao vì độ hiếm và chất lượng. Tuy nhiên, trải nghiệm thực tế của người dùng cho thấy lớp phủ SIC này (chỉ dùng cho 1 thấu kính) cải thiện chất lượng hình ảnh không rõ rệt so với lớp phủ NIC truyền thống.

Hình: Ống kính Nikkor AIS 105mm f/2.5 với phần hood thu gọn (trái) và kéo dài (phải). Hình chụp bởi Sergei Borodin (http://allphotolenses.com)

Hình: Khác biệt ở ngàm AI và AIS (www.nikonimgsupport.com)

   Dưới đây là thông số kỹ thuật ống kính AIS và 10 tấm ảnh đẹp nhất do Vsion chọn ra từ các gallery ảnh trên Flickr. Các bạn sẽ được chuyển tới trang ảnh gốc để xem ảnh chất lượng cao hơn nếu click vào đường link trong tên tác giả và thiết bị ở dưới mỗi ảnh.
Thông số kỹ thuật ống kính Nikon 105mm f/2.5 (AiS)
Hãng sản xuất Nikon (Nippon Kogaku Japan - NKJ)
Tiêu cự 105mm
Khẩu độ lớn nhất f/2.5
Khẩu độ nhỏ nhất f/22
Góc nhìn (sensor full frame) 23°20′
Khoảng cách lấy nét gần nhất 1 m
Tỷ lệ phóng đại tối đa 1:7.7
Số lá khẩu 7 lá khẩu
Thiết kế ống kính 5 thấu kính trong 4 nhóm
Đường kính filter 52mm
Ngàm Nikon F mount (MF) - dạng AiS
Kích thước 64mm x 78mm
Khối lượng 435g
Thời điểm công bố 1981
Giá vào thời điểm công bố -
Giá tham khảo ống kính cũ (2017) $50 - $200 (tùy tình trạng)
   ẢNH ĐẸP CHỌN LỌC CHỤP BẰNG ỐNG KÍNH NIKON 105MM F/2.5
   CÁC LỰA CHỌN MF KHÁC

   Các ống kính 105mm có thể nói là tiêu cự tiêu biểu của Nikon nên chất lượng đều rất tốt. Nếu bạn cần chụp macro thì ống kính Micro-NIKKOR 105mm f/4 (1970 - 1983) hoặc bản nâng cấp Micro-NIKKOR 105mm f/2.8 (từ 1983) là hai lựa chọn tốt, trong đó bản sau có lợi thế chính về kích thước và khẩu độ lớn hơn (độ nét nhỉnh hơn một chút).

Hình: Micro-Nikkor 105mm f/4 và f/2.8. Hình chụp bởi Ken Rockwell (www.kenrockwell.com)

   Còn nếu khẩu độ f/2.5 còn hơn nhỏ với bạn thì bản Nikkor 105mm f/1.8 có thể phù hợp với nhu cầu chụp chân dung của bạn. Hai ống kính này có độ nét rất giống nhau nhưng ống kính f/1.8 có thể chụp được DOF rất mỏng, phù hợp với chụp chân dung toàn thân. Tuy nhiên, bạn cũng cần cân nhắc kỹ vì giá ống f/1.8 có thể gấp đôi và to, nặng hơn đáng kể f/2.5.

Hình: các ống kính MF của Nikon (từ trái sang) 85mm f/2 AIS, 85mm f/1.4 AIS, 105mm f/2.5 AIS, 105mm f/1.8 AIS, 135mm f/2.8 AI, 135 f/2 AIS. Hình được chụp bởi thành viên CGrindahl trên diễn đàn Fredmiranda.

Dr. Fox
Bài viết được biên tập bởi Dr. Fox
Nghiêm cấm sử dụng lại nếu không được sự đồng ý của tác giả
*** Để có thể comment bằng Disqus, đầu tiên các bạn cần đăng nhập bằng Facebook bằng cách click vào biểu tượng Facebook ở dưới
Bài viết mới

Vsion.vn

By Vsion team 01 Nov, 2017
   Với người sử dụng máy ảnh Sony không gương lật ngàm E thì kho ống kính ngàm A của Sony / Minolta là một nguồn ống kính rất phong phú với giá cả phải chăng và chất lượng tốt. Vì thế khi phát triển hệ thống máy ảnh ngàm E thì Sony cũng thiết kế các ngàm chuyển để người dùng có thể sử dụng được ống kính ngàm A trên máy ảnh ngàm E. Hiện nay có 4 loại ngàm chuyển tên là LA-EA ( L ens A dapter for E -mount cameras to use  A - mount lenses) được phân biệt như sau:

  • LA-EA1 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A có motor trong (SSM và SAM); ống kính không có motor lấy nét (điều khiển qua ốc vít) của Minolta và một số ống kính của Sony chỉ có thể lấy nét tay chứ không AF được. Ngàm này không có kính mờ (translucent mirror) ở giữa.

  • LA-EA2 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A không có motor trong (điều khiển qua ốc vít). Ngàm này có sử dụng kính mờ ở giữa ngàm nên làm giảm 30% lượng ánh sáng đi qua ống kính. Để điều khiển lấy nét, ngàm có hệ thống motor lấy nét nằm trong ngàm và hoạt động độc lập với camera nên tốc độ lấy nét, số điểm lấy nét không phụ thuộc máy ảnh. Ngàm sử dụng 15 điểm lấy nét theo pha (PDAF) trong đó có 3 điểm là cross-type .

  • LA-EA3 : giống LA-EA1 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame (ống kính crop sẽ không bao phủ được toàn bộ cảm biến).

  • LA-EA4 : giống LA-EA2 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame. LA-EA4 hoạt động được với tất cả ống kính ngàm A của Minolta, Sony, Tamron, Sigma, ngoại trừ các ống kính Minolta AF Xi.
By Vsion team 31 Oct, 2017
   Vào những năm 1850, nhiếp ảnh đã trở nên phổ biến và đỡ tốn kém hơn với nhiều người. Đây cũng là nguyên do dẫn tới một trào lưu trong thời kỳ Victoria (thời kỳ trị vì của Nữ hoàng Anh quốc Victoria từ 1837 tới 1901) gọi là trào lưu chụp ảnh cùng người mới chết ( post-mortem photography ) khi người chết được chụp ảnh trong cùng album với những người thân thích trong gia đình. Dưới đây là 2 phút video tài liệu về trào lưu này được thực hiện bởi kênh HISTORY .

   Được biết tới với cái tên memento mori (nghĩa là " hãy nhớ là bạn phải chết " - " remember you must die "), trào lưu này ngày càng trở nên thịnh hành và ngay cả Nữ hoàng Victoria cũng ngủ dưới tấm hình người chồng quá cố của mình.
By Vsion team 30 Oct, 2017
   Sigma là tập đoàn sản xuất thiết bị ngành ảnh lâu đời của Nhật được ra đời vào năm 1961 bởi Michihiro Yamaki và ông cũng là CEO của công ty cho tới khi qua đời vào năm 2012. Vẫn được biết đến như một công ty sản xuất ống kính cho các hệ máy ảnh của các hãng lớn và phục vụ hệ máy ảnh của chính công ty mình, các ống kính của Sigma có thể hoạt động trên các máy ảnh DSLR của Canon, Nikon, Pentax thông qua quá trình thiết kế bắt chước phương thức lấy nét tự động (AF) của các loại máy ảnh này. Các ống kính của Sigma có chất lượng thường được xếp sau các ống kính "chính hãng" và có mức giá dễ chịu hơn.

   Vào năm 2013, sau khi Michihiro Yamaki mất, Sigma cũng bắt đầu một cuộc cách mạng mới được đánh dấu với sự ra đời của dòng ống kính Global Vision với các ống kính được nâng cấp từ các ống kính hãng đã từng chế tạo theo tiêu chuẩn cao và nghiên cứu phát triển những ống kính mới chưa từng xuất hiện trên thị trường. Một điểm đặc biệt nữa của các ống kính Global Vision là Sigma lần đầu tiên nhận thay ngàm cho các ống kính này nếu người sử dụng có nhu cầu đổi hệ máy mà không muốn đổi ống kính. Ngoài ra, các ống kính Global Vision đều tương thích với Sigma USB Dock là một thiết bị kết nối trực tiếp với ống kính thông qua ngàm tương thích và điều khiển thông qua máy vi tính để cân chỉnh khả năng focus của ống kính, giúp người dùng có thể tự điều chỉnh ống kính khi độ chính xác chưa được như mong muốn.
By Vsion team 27 Oct, 2017
   Sau 2 năm rưỡi kể từ ngày Sony công bố A7R mark II (tháng 6 năm 2015), ngày hôm qua Sony đã chính thức công bố thế hệ thứ ba của chiếc máy ảnh full frame không gương lật cao cấp này. Trái với thứ tự ưu tiên công bố, thay vì công bố máy A7 dòng R (High Resolution - độ phân giải cao) sau A7 thì lần này Sony công bố A7R mark III  (hay A7RIII ) đầu tiên trong series mới. Động thái này có thể là lời đáp trả của Sony với sự kiện Nikon công bố máy ảnh full frame DSLR thế hệ mới D850 hồi tháng 4. Đây là một bất ngờ lớn với cộng đồng nhiếp ảnh vì những thông tin gần đây nhất có được đều hướng về A7 mark III. So với A7RII thì A7RIII có nhiều nâng cấp nhỏ thay vì cải tiến đột phá về công nghệ, thế nên chúng ta hãy nhìn vào chi tiết các tính năng và đặc điểm mới của chiếc máy này xem nó có phải một phiên bản tốt hơn hẳn thế hệ trước hay không.

   Bài viết này của Vsion chỉ tập trung phân tích các đặc tính được công bố của hãng cùng thông tin bổ sung từ các reviewer nên chúng ta vẫn cẩn xác nhận lại khi chiếc máy ảnh này đến tay người dùng. Cuối bài viết, chúng tôi cũng cung cấp bảng so sánh chi tiết A7RIII so với A7RII và Nikon D850 để bạn đọc có thể có cái nhìn đầy đủ về mối tương quan của chiếc máy ảnh này với hai lựa chọn gần với nó trên thị trường.
By Vsion team 18 Oct, 2017
   Chắc hẳn sẽ có lúc nào đó trong chuỗi ngày cầm máy ảnh, bạn sẽ thấy bí bách với những tấm ảnh mình thường chụp, với mức độ "xóa phông" của ống kính mình hay dùng, với những câu hỏi căn bản như ảnh của mình có lấy đúng nét hay không, bokeh có mịn màng không... Hoặc bạn sẽ thấy ống kính của mình rất giới hạn ở khả năng chụp gần, không tạo hiệu ứng 3D, khó tạo điểm nhấn đặc biệt... Nếu bạn gặp phải những chuyện này thì đó là chuyện hoàn toàn bình thường và rất dễ gặp khi chúng ta bị gò bò trong cách sử dụng các thiết bị các bạn đang có trong tay. Khi bắt đầu loạt bài viết Vượt qua giới hạn thiết bị , mình có suy nghĩ là muốn giới thiệu với các bạn những cách tiếp cận để tăng hiệu quả quang học của thiết bị và làm tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí quang học như đạt DOF mỏng hơn giới hạn, khử noise tốt hơn khả năng của máy, tuy nhiên một tấm ảnh đẹp không nhất thiết phải là một tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí chất lượng hình ảnh. Nếu như hai bài viết trước giúp các bạn phần nào cải thiện giới hạn trên của các thiết bị, trong bài viết thứ ba này mình muốn giới thiệu tới các bạn cách để vượt qua... giới hạn dưới của ống kính. Freelensing là tên của kỹ thuật nhiếp ảnh (hay lens whacking trong quay phim) giúp chúng ta gỡ bỏ những ràng buộc của ống kính và máy ảnh, làm tấm ảnh bộc lộ rõ những "điểm yếu về quang học" mà chúng ta thường tránh như hiện tượng lệch mặt phẳng nét, giảm độ nét hay bị light leak và flare khắp mọi nơi, nhưng đó mới là những thứ chúng ta cần khai thác để tạo ra những tấm ảnh có phong cách mới lạ và sáng tạo.

   Đầu tiên, mời các bạn xem video dưới đây do tác giả James Miller thực hiện hoàn toàn bằng phương pháp lens whacking để hiểu được hiệu ứng chúng ta sẽ đạt được bằng phương pháp này.
By Vsion team 13 Oct, 2017
   Ngày nay khá nhiều người mới tập sử dụng máy ảnh với ống kính AF có thể ngạc nhiên khi nhắc tới khái niệm lỗ khẩu hay lá khẩu, và khái niệm khẩu độ chỉ thể hiện bằng con số có thể điều chỉnh trên máy ảnh. Lý do là hiện nay máy ảnh đã được thiết kế để người dùng không phải điều chỉnh khẩu độ bằng tay thông qua cơ chế cơ học nữa (tuy nhiên vẫn có những loại ống kính cho phép điều khiển vòng khẩu độ mặc dù nó được điều khiển điện) và lá khẩu chỉ đóng rất nhanh khi chụp ảnh. Vì thế nên nếu các bạn không để ý, cũng dễ hiểu khi các bạn chưa từng nhìn thấy hình dạng cái lỗ khẩu nó ra làm sao.

   Vai trò của lỗ khẩu là một vị trí trong ống kính có thể điều khiển diện tích thông qua việc đóng, mở các lá khẩu và thay đổi lượng ánh sáng đi qua ống kính, từ đó giúp bạn điều chỉnh độ sâu trường ảnh, độ nét, mức độ sáng của hình. Trong thời kỳ ống kính chưa có hệ thống motor điều khiển lấy nét tự động thì các ống kính nhiếp ảnh đều có vòng khẩu độ nằm trước hoặc nằm sau vòng lấy nét để giúp bạn điều chỉnh giá trị f-stop. Do việc điều chỉnh khẩu độ hoàn toàn là cơ học nên một thao tác quan trọng khi dùng máy film để lấy nét là bạn mở vòng khẩu độ ra hết cỡ để lấy nhiều ánh sáng nhất có thể (nếu không viewfinder sẽ tối), sau đó lấy nét vào điểm mong muốn rồi mới hạ vòng khẩu độ này xuống giá trị f-stop bạn cần để chụp. Để phục vụ cho nhu cầu này, nhiều ống kính lấy nét tay (MF) có thêm một vòng khẩu độ nữa, có tác dụng giới hạn vòng khẩu độ thứ hai. Đây gọi là các ống kính pre-set (xác lập trước) mà khi sử dụng bạn cần chỉnh một vòng khẩu độ đến giá trị mong muốn, sau đó vặn vòng khẩu độ thứ hai di chuyển rất nhanh giữa vị trí mở khẩu độ lớn nhất và vị trí bạn đã xác lập trước mà không cần phải nhìn lại thân ống kính.
More Posts
Share by: