Sử dụng Frequency Separation để xử lý hậu kỳ da

  • By Vsion team
  • 06 Sep, 2017
   Chụp chân dung trong thời đại kỹ thuật số đòi hỏi người chụp phải có nhiều kỹ năng, không chỉ là việc sử dụng máy ảnh và kỹ thuật chụp thành thạo, trong đó kỹ thuật xử lý hậu kỳ rất quan trọng để có được một tác phẩm ưng ý. Trong giới chụp ảnh, vẫn có nhiều tranh cãi về vấn đề xử lý hậu kỳ và chụp "ảnh gốc" là quan trọng hơn hay mức độ xử lý hậu kỳ như thế nào để ảnh nhìn vẫn tự nhiên. Không ai trong chúng ta sinh ra với một làn da hoàn hảo không tỳ vết, nhưng có nhất thiết phải bộc lộ tất cả những khiếm khuyết đó trong ảnh chân dung hay không? Câu trả lời này tùy thuộc vào bạn. Tuy nhiên theo chúng tôi, có những khiếm khuyết tạm thời (như mụn, vết thâm, vết do trang điểm, mắt sưng...) nên được xử lý để cân bằng giữa tính thẩm mỹ của tấm ảnh và giá trị hình ảnh gần với thực tế.
Một tấm ảnh có thể tách làm hai phần bổ sung cho nhau: ảnh tần số thấp (cho các mảng màu) và ảnh tần số cao (cho các chi tiết)
   Có nhiều phương pháp để xử lý da trong hậu kỳ, trong đó phải kể đến những phương pháp nhanh và được ưa chuộng như sử dụng công cụ clone, healing, blur làm mịn da... nhưng đặc điểm chung của các phương pháp này là rất khó tách biệt chi tiết và các mảng màu sắc, hoặc làm mất các chi tiết đặc trưng của da nên phù hợp hơn với ảnh chụp xa hay kích thước ảnh nhỏ. Đối với xử lý hậu kỳ high-end (xử lý chất lượng cao cho những tác phẩm yêu cầu độ chi tiết và tính hoàn mỹ cao) thì có một phương pháp khác cũng rất thông dụng mà hôm nay Vsion muốn giới thiệu với các bạn, đó là Frequency separation , hay phương pháp tách tần số chi tiết ảnh. Nghe qua có vẻ phức tạp nhưng phương pháp này chỉ tốn thời gian hơn các phương pháp đã nói ở trên mà đạt hiệu quả rất cao.
THẾ NÀO LÀ FREQUENCY SEPARATION?
   Trong một tấm ảnh, nếu đọc thông số cường độ màu sắc của từng pixel các bạn sẽ nhận thấy có những khu vực pixel có giá trị độ sáng, màu sắc... thay đổi đột ngột so với khu vực xung quanh, và đó thường là nơi chứa thông tin về các chi tiết. Khác với nó là những khu vực giá trị độ sáng, màu sắc của pixel khá đồng đều nhau và đó là khu vực chứa thông tin về các mảng màu. Như vậy, nếu chia tần số xuất hiện của các pixel khác biệt thì chúng ta sẽ có những khu vực có tần số cao ( high frequency ) thể hiện chi tiết và những khu vực có tần số thấp ( low frequency ) thể hiện các mảng màu. Như tấm hình ở trên, nếu bạn nhìn gần hoặc phóng to hình bạn sẽ nghĩ đó là ảnh của Albert Einstein, nhưng nếu lùi ra xa hoặc thu nhỏ hình bạn sẽ nghĩ đó là ảnh của Marilyn Monroe. Thực tế thì đây là ảnh chồng một tấm chân dung của Einstein ở tần số cao với ảnh của Monroe ở tần số thấp. Nguyên nhân của sai khác thị giác là do ở khoảng cách gần hay phóng to hình, mắt bạn có thể phân biệt được tần số cao và tần số thấp nên bạn sẽ thấy chi tiết của chân dung Einstein, nhưng ở khoảng cách xa hay thu nhỏ hình, mắt không đủ khả năng phân biệt hai tần số này nên bạn sẽ thấy tần số thấp.
   Theo nguyên tắc đó, nếu bạn có thể tách tấm ảnh chân dung cần xử lý da thành hai phần: low frequency và high frequency, thì bạn sẽ dễ dàng chỉnh sửa chi tiết (lông, tóc, lỗ chân lông, nếp nhăn, đường nét mặt....) và các mảng màu trên da mà không sợ các chúng bị lẫn với nhau và tạo các kết quả không mong muốn.
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG FREQUENCY SEPARATION?
Ảnh gốc sử dụng trong hướng dẫn. Click vào ảnh để download ảnh chất lượng cao. Ảnh được cung cấp bởi pixabay.com
   Trong hướng dẫn này, mình sẽ tiến hành xử lý da trong tấm ảnh chân dung ở trên với phương pháp tách tần số chi tiết ảnh. Các bạn có thể download ảnh gốc để thử nghiệm phương pháp. Các thao tác được tiến hành trên Adobe Photoshop CC 2015 , tuy nhiên các bạn hoàn toàn có thể tiến hành các bước tương tự với các bản Photoshop khác.
BƯỚC 1: TÁCH TẦN SỐ CHI TIẾT ẢNH
   Mở ảnh gốc trong Photoshop, sau đó bạn click chuột phải vào layer ảnh và chọn Duplicate layer... để tạo ra layer giống hệt. Lặp lại bước này hai lần và bạn có 2 bản copy của ảnh gốc ở 2 layer phía trên. Mình đặt tên 2 layer này lần lượt là Low frequencyHigh frequency (hoặc tên khác tùy các bạn).
   Ẩn đi layer High frequency (bằng cách click vào hình con mắt ở bên trái hình layer) sau đó chọn layer Low frequency. Chúng ta sẽ tạo ra ảnh tần số thấp bằng filter Gaussian Blur: vào mục Filter , sau đó chọn Blur -> Gaussian Blur...
   Với filter này, bạn sẽ làm nhòe đi các chi tiết trong hình và tạo thành các mảng màu, không còn chi tiết. Trong cửa sổ tùy chọn của filter, bạn phải chọn Radius hay mức độ làm nhòe hình. Tùy mức độ chi tiết bạn muốn tách ra khỏi tấm chân dung mà giá trị Radius này bạn có thể tăng hoặc giảm. Trong trường hợp hình này, mình muốn giữa lại phần tàn nhang (tần số không thật cao) khi chỉnh chi tiết nên mình để giá trị Radius hơi cao (11), còn trong các trường hợp khác các bạn có thể dùng các giá trị thấp hơn như trong khoảng 4-7. Bằng cách di vị trí chi tiết trên màn hình Preview nhỏ, bạn có thể xác định được mức độ làm nhòe phù hợp. Ấn OK để thực hiện ứng dụng filter Gaussian Blur lên layer Low frequency.
   Tạo layer High frequency: click vào hình con mắt của layer High frequency để hiện layer này. Sau khi đã chọn layer High frequency, bạn vào mục Image -> Apply Image và tùy chọn như ở dưới. Trong mục Layer , bạn chọn tên layer là Low frequency (tức là layer tần số thấp bạn mới tạo ở dưới). Trong mục Blending , bạn chọn Substract và không thay đổi các thông số bên dưới ( Opacity: 100%, Scale: 2, Offset: 128 ). Với tùy chọn này, Photoshop sẽ dùng ảnh gốc và loại bỏ (substract) phần tần số thấp để còn lại phần chi tiết tần số cao.
   Ở dưới là ảnh tần số cao bạn sẽ nhận được nếu tiến hành đúng các thao tác như hướng dẫn. Trong layer này bạn sẽ thấy các chi tiết ảnh như đường nét, mắt, tóc, nếp nhăn, một số tàn nhang...
   Sau đó bạn chọn Blending mode cho layer High frequency thành Linear light, bạn sẽ thấy ảnh hồi phục lại y nguyên như ảnh ban đầu. Với chế độ blend hình này, hai tấm hình tần số cao và tần số thấp sẽ được chồng lên nhau theo thuật toán tuyến tính, và vì bạn có hai nửa hoàn toàn bù trừ cho nhau nên ảnh tổng hợp sẽ giống y như ảnh gốc ban đầu.
Chọn Blending mode là Linear light để kết hợp hai ảnh tần số khác nhau
Ảnh kết quả tổng hợp hai ảnh Low frequency và High frequency
   Về căn bản thì cách tách ảnh thành hai layer tần số cao và thấp kết thúc ở đây, còn phần sau là cách sử dụng phương pháp này kết hợp với các công cụ khác để xử lý da hiệu quả (các bạn có thể dùng các công cụ khác hoàn toàn tùy thuộc thói quen và nhu cầu). Bạn có thể nhóm (group) hai layer này thành một Set để tiện theo dõi thay đổi so với hình ảnh gốc. Click Ctrl + chọn hai layer, sau đó ấn vào biểu tượng folder (thứ năm từ bên trái) ở dưới cửa sổ layer. Chỉ cần chọn bật, tắt biểu tượng con mắt ở bên trái của set, bạn sẽ thấy thay đổi về hiệu ứng so với ảnh gốc (layer dưới cùng).
BƯỚC 2: SỬ DỤNG ẢNH TẦN SỐ THẤP ĐỂ LÀM MỊN CÁC VÙNG DA LỆCH SÁNG VÀ LỆCH MÀU
   Đầu tiên, mình dùng layer tần số thấp để làm các vùng da bị chênh sáng nhiều trở nên đều hơn, mịn hơn, thậm chí loại bỏ một số mảng màu xuất hiện ngoài ý muốn như các vết thâm, quầng mụn. Sử dụng công cụ chọn Lasso (hoặc phím tắt L) hình dây thòng lọng trên bảng công cụ, bạn chọn layer Low frequency và khoanh các vùng nhỏ có độ chênh sáng rõ (ví dụ như do mụn nên da bị ghồ ghề hoặc ánh sáng quá gắt hay quá tối). Sau khi có vùng chọn giới hạn bằng đường đứt nhấp nháy, bạn vào mục Select -> Modify... -> Feather...  
   Sau đó bạn chọn giá trị Feather radius  (khoảng 30-100px) tức là mức độ chuyển của hiệu ứng ở quanh viền vùng chọn, giúp hiệu ứng mịn và khó nhận ra hơn. Ở những vùng có độ chênh sáng mạnh thì bạn có thể dùng giá trị radius cao, ở những vùng khá đồng đều thì dùng giá trị radius thấp hơn. Trong hình này, những vùng phản xạ ánh sáng nhiều như trước trán, chóp mũi... và vùng da phức tạp có nhiều mụn mình dùng giá trị 100 px, còn các vùng khác thì chỉ chọn 30 px tới 50 px.
   Để làm nhòe hay làm mịn những khu vực này, bạn chọn filter Gaussian Blur như trong bước 1. Nhìn trên màn hình preview, bạn có thể chọn mức độ làm nhòe phù hợp để những chênh lệch về ánh sáng và màu sắc không còn nhận rõ nữa. Sau khi chọn giá trị Radius ưng ý thì chọn OK để áp dụng filter. Lưu ý là các thao tác này thực hiện trên layer Low frequency nên khi đang bật cả hai layer, bạn sẽ thấy các chi tiết không thay đổi mà chỉ các mảng màu trên da bị thay đổi.
   Hình dưới là kết quả sau khi đã làm mịn các vùng chênh sáng, chênh màu lớn trên da. Để so sánh với ảnh gốc, bạn có thể xem ở hình động bên dưới. Ngoài ra, các bạn hoàn toàn có thể điều chỉnh được màu sắc các vùng da như làm tăng saturation, xóa quầng thâm... bằng các công cụ khác.
   Sau bước này, các vùng bóng trên mặt đã mịn hơn và một số chi tiết lỗi trên da cũng đã biến mất.
Trước và sau khi làm mịn các vùng sáng trên da với Layer tần số thấp
BƯỚC 3: SỬ DỤNG ẢNH TẦN SỐ CAO ĐỂ XÓA CÁC CHI TIẾT LỖI HOẶC KHÔNG MONG MUỐN
   Ở bước này, đầu tiên bạn cần chọn layer bên trên (High frequency) để có thể tác động tới các chi tiết. Như hình phóng to ở dưới, mình sẽ dùng công cụ Clone Stamp Tool (hoặc phím S)   để dùng các vùng da đẹp làm mẫu và đè lên các vùng da có chi tiết không vừa mắt. Các điểm đặc trưng của da như tàn nhang mình sẽ không đụng tới, còn các vết lồi lõm hay một số nếp nhăn mình sẽ loại bỏ ở layer này. Với công cụ Clone Stamp Tool này, bạn cần giữ phím Alt và click vào khu vực muốn clone, sau đó di chuột lên khu vực bạn muốn clone đè lên. Thông thường mình chọn Opacity  (ở hàng thông số thứ hai) của công cụ này khá thấp (dưới 20%) để tinh chỉnh các khu vực theo các mức độ vừa phải. Các vùng da chọn nên ở gần nhau để có đặc trưng chi tiết giống nhau, tránh dùng các mẫu da ở các vùng quá khác nhau (như cằm và trán) để clone lẫn cho nhau.
   Ảnh khu vực trán sau khi sửa trên layer High frequency. Mọi thao tác trên layer này không ảnh hưởng gì tới màu sắc của layer nằm bên dưới. Các bạn hoàn toàn có thể làm kỹ hơn nữa, còn ở đây mình chỉ thực hiện chủ yếu là xóa mụn và làm mềm các đường nhăn và các khu vực quá ghồ ghề trên da.
Chi tiết vùng trán sau khi xử lý trên layer High frequency
Chi tiết vùng mắt trái trước khi xử lý layer High frequency
Chi tiết vùng mắt trái sau khi xử lý layer High frequency
BƯỚC 4: CÂN CHỈNH PHÂN BỔ ÁNH SÁNG VÀ MÀU SẮC TRÊN HÌNH ĐỂ HOÀN THIỆN VIỆC XỬ LÝ DA
   Ở bước cuối cùng này, các bạn có thể dùng công cụ Dodge Tool (làm sáng) và Burn Tool (làm tối) để điều chỉnh phân bổ ánh sáng trên mặt cho mịn hoặc tạo khối như ý muốn. Khi sử dụng các công cụ này, các bạn nhớ thao tác trên layer tần số thấp để tác động lên các mảng màu. Ngoài ra, cần lưu ý là cả hai công cụ này có chia đối tượng tác động ra làm ba vùng: Highlights , Midtones , Shadows , tức là mỗi tùy chọn công cụ chỉ tác động tới vùng ảnh có mức độ sáng khác nhau. Thông thường mình cũng chọn Opacity của hai công cụ này ở mức thấp (dưới 5%) để không gây các biến đổi đột ngột trên ảnh.
   Để thay đổi mức độ no màu (saturation) ở các khu vực khác nhau, các bạn có thể dùng công cụ Sponge Tool sau đó chọn tùy chọn Saturate (làm no màu) hoặc Desaturate (làm giảm no màu) để tùy chỉnh trên layer Low frequency. Mức độ Opacity của công cụ này cũng nên để ở mức thấp dưới 10% để dễ tinh chỉnh.
   Để làm da bớt vàng và hồng hào hơn, các bạn dùng một layer chỉnh màu bằng công cụ Selective Color. Click vào mục Layer rồi chọn New Adjustment Layer -> Selective Colors... và chọn kênh màu vàng. Ở kênh màu vàng, các bạn kéo channel màu vàng sang bên trái một chút là da sẽ trở nên hồng hào hơn.
   Và đây là ảnh cuối cùng sau khi đã chỉnh da, các bạn click vào ảnh để download ảnh chất lượng cao.
   Với hình động ở dưới các bạn có thể nhận ra các thay đổi từ ảnh gốc tới ảnh sản phẩm cuối cùng.
   Những sai khác giữa trước (hình trên) và sau khi chỉnh sửa (hình dưới) các bạn có thể thấy rõ hơn khi zoom lớn hình. Trong khi các chi tiết lỗi bị loại bỏ thì các đặc trưng như lông tơ, lỗ chân lông... trên da vẫn được bảo toàn và da nhìn mịn màng hơn ban đầu với ánh sáng, màu sắc phân bổ đều hơn.
   Để hình dung rõ hơn về các thao tác của phương pháp này, các bạn có thể xem video hướng dẫn dưới đây (tiếng Anh).
   Trong các bài viết sau, Vsion sẽ xin giới thiệu các công cụ khác để các bạn có thể xử lý hậu kỳ ảnh như ý muốn. Hy vọng các bạn có thể dùng phương pháp này hiệu quả để có những tấm ảnh đẹp chất lượng cao.
Dr. Fox
Bài viết do Dr. Fox thực hiện
Nghiêm cấm đăng lại trên các website hay ấn phẩm khác
*** Để có thể comment bằng Disqus, đầu tiên các bạn cần đăng nhập bằng Facebook bằng cách click vào biểu tượng Facebook ở dưới
Bài viết mới

Vsion.vn

By N.Đ.Phan 12 Jan, 2018
Ricoh GR - ông vua của nhiếp ảnh đường phố. 

Nếu bạn là người yêu nhiếp ảnh đường phố, bạn không thể không biết đến Ricoh GR. Chiếc máy ảnh bỏ túi được, có kích cỡ như những chiếc Point and Shoot nhưng lại mang trong mình cảm biến "khá lớn" crop APS-C và ống kính fix 18mm f/2.8 (tương đương góc nhìn 28mm trên Fullframe). Chỉ với 2 thông số vậy thôi cũng đã đủ thấy sức hấp dẫn của nó như thế nào.

Ricoh GR là sự lựa chọn của rất nhiều nhiếp ảnh gia nổi tiếng dùng cho chụp đường phố. Trong số đó có lẽ không thể không kể đến Eric Kim, một nhiếp ảnh gia người Mỹ, gốc Hàn (và có một cô vợ gốc Việt Nam). Eric khá nổi tiếng với những bài viết blog của mình về nhiếp ảnh đường phố, những workshop hướng dẫn và chia sẻ kinh nghiệm chụp ảnh đường phố khá hấp dẫn thú vị. Và Ricoh GR là chiếc máy được Eric sử dụng nhiều nhất và yêu thích nhất dành cho mục đích của mình, mặc dù đã trải qua cực kỳ nhiều những siêu phẩm và những chiếc máy nổi tiếng khác, kể cả Leica M6 hay Leica M9.

Vậy điều gì làm cho Ricoh GR hấp dẫn đến như vậy? Đã có rất nhiều bài viết, đánh giá về chiếc máy này, bản thân Eric cũng đã sống ở Việt Nam một khoảng thời gian không ngắn và có những workshop chia sẻ về điều này ở đây. Tuy nhiên tôi cũng xin tóm tắt lại với một số điểm chính như sau:

1. Ricoh GR rất bé , là một chiếc máy ảnh có thể đút vào túi quần bò của bạn. Đây là chiếc máy thứ 2 tôi cảm thấy có thể đút túi được và chụp một cách thoải mái nhất trên đường phố (chiếc máy còn lại là series RX100 của Sony). Và vì GR rất nhỏ, nên khi bạn cầm chụp trên phố, sẽ chẳng có ai để ý đến bạn đang làm gì hay cảm thấy khó chịu. Riêng điểm này thôi đã đủ để GR là một chiếc máy tuyệt vời với người chụp ảnh phố, và nó cũng rất thích hợp với những ai thích du lịch nhẹ nhàng.
By N.Đ.Phan 05 Jan, 2018
Máy ảnh Compact, máy ảnh PnS (Point and Shoot) hay máy ảnh phổ thông là những cụm từ có lẽ rất quen thuộc đối với đại đa số cộng đồng trong những năm 1990 hay 2000. Đó là thời điểm mà sự phổ biến của DSLR hay Mirrorless vẫn là những thứ xa xỉ ít có ai biết đến. Trên thực tế, cụm từ hay thao tác "ngắm và chụp" (Point and Shoot) thật ra vẫn rất phổ biến hiện nay, đó là sự "đơn giản" cần thiết để chụp một bức ảnh đẹp với số đông, những người  "không quá quan tâm" đến nhiếp ảnh. Những chiếc Compact vẫn có chỗ đứng nhất định, những chiếc Smartphone vẫn là những "máy ảnh" thuận tiện nhất, và kể cả những siêu phẩm đắt đỏ ngày nay cũng dần tối giản hóa, cố gắng đem lại trải nghiệm đơn giả nhưng cho ra những bức hình xuất sắc nhất, và những thiết bị đạt được cái yêu cầu tưởng chừng như dễ dàng đó lại có những mức giá cao ngất ngưởng (ví dụ như Leica Q hay RX1R mark II). 

Nói lan man như vậy với mục đích chính là hôm nay, người viết muốn chia sẻ một chút trải nghiệm của bản thân với một sản phẩm không hề mới, nhưng vẫn rất tốt và thực sự thú vị, chiếc máy ảnh Compact Sony RX100 Mark III. 
By Dr. Fox 26 Dec, 2017
   Từ khi khái niệm bokeh (đọc là bô kêy) để chỉ vùng chi tiết không được lấy nét trong một tấm hình được ra đời, người ta thường chỉ phân biệt bokeh có mịn hay không, tức là các chi tiết bokeh có đường viền xác định rõ ràng với khu vực xung quanh hay không, bokeh có tròn hay không, hay bokeh có xoáy hay không...  nhưng càng về sau, khi nhắc tới các ống kính hiện đại hơn người ta lại nhắc thêm tới một loại bokeh nữa rất oái oăm, là bokeh ... vân hành, hay bokeh củ hành ( onion ring bokeh ). Đây là dạng bokeh có những đường vân xoáy hoặc đường tròn đồng tâm nằm trong bóng bokeh, rất giống các đường vân của củ hành khi thái ngang (như ở hình đầu tiên). Không phải ống kính nào cũng tạo ra dạng bokeh vân hành như thế này và cũng trong những điều kiện độ sáng và bóng tròn bokeh lớn nhất định thì chúng ta mới có thể thấy rõ, nhưng rõ ràng phần lớn mọi người đều không thích sự xuất hiện của những đường vân này trong khung hình của mình. 

   Hình bên dưới, nếu các bạn còn nhớ, là hình mình so sánh bokeh của hai ống kính SLR Magic 35mm f/1.2Samyang 35mm f/1.4 có dạng bokeh rất khác nhau, trong đó bokeh của Samyang có dạng vân hành rất rõ, còn tuyệt nhiên ống kính SLR Magic không tạo ra bokeh dạng này. Điểm khác biệt quan trọng giữa hai ống kính này là SLR Magic không sử dụng thấu kính phi cầu trong thiết kế, còn Samyang có sử dụng 1 thấu kính phi cầu ( Aspherical hay ASPH ) như phần màu vàng nhạt trong bản vẽ thiết kế.
By Dr. Fox 22 Dec, 2017
   Trong bài viết trước, Vsion đã có dịp giới thiệu với các bạn ống kính IRIX 15mm f/2.4 và so sánh chất lượng với 2 ống kính Voigtlander 15mm f/4.5 ( đọc bài viết ). Tuy nhiên IRIX 15mm là ống kính DSLR nên có thể người dùng máy ảnh DSLR (Canon, Nikon, Pentax...) sẽ có câu hỏi về chất lượng của ống kính này so với Samyang 14mm f/2.8 , vốn là ống kính siêu rộng (ultrawide) giá rẻ vốn đã có mặt trên thị trường một thời gian. Trong bài viết này, Vsion sẽ đánh giá chi tiết Samyang 14mm f/2.8 và so sánh chất lượng với IRIX 15mm f/2.4 để các bạn có thể quyết định được ống kính nào phù hợp với mình hơn trong phân khúc này. Để tìm hiểu chi tiết hơn về IRIX 15mm thì các bạn có thể đọc ở bài viết trước theo link ở trên.

   Kể từ khi ra đời vào năm 2009, Samyang 14mm f/2.8 là ống kính fix lấy nét tay duy nhất có tiêu cự 14mm trên thị trường, đồng thời cũng là ống kính siêu rộng không phải fisheye (rectilinear) rẻ nhất cho máy ảnh DSLR full frame. Samyang 14mm f/2.8 phiên bản đầu tiên có viền màu vàng và phiên bản hiện nay trên thị trường có viền màu đỏ (dưới nhiều cái tên khác nhau như Rokinon , Bower , Walimex , Polar , Pro Optics ). Ngoài ra, ống kính này còn có hai phiên bản cine dùng cho quay phim với thiết kế bên ngoài có vòng lấy nét và vòng chỉnh khẩu dạng bánh răng, khẩu độ biểu diễn theo T-stop (14mm T3.1) và giá đắt hơn bản thường khoảng 1-2 triệu đồng (bản VDSLR) còn bản chuyên nghiệp hơn mang tên XEEN , có giá khoảng 50 triệu đồng. Tuy nhiên, tất cả các phiên bản được nhắc tới ở trên đều có cùng thiết kế và chất lượng quang học . Các ống kính Samyang dành cho máy DSLR như 14mm f/2.8 sẽ có nhiều phiên bản với phần ngàm khác nhau (và độ dài, khối lượng giữa các bản này cũng hơi khác nhau một chút) và trong bài đánh giá này, mình dùng bản dành cho Canon EF và dùng trên máy Sony A7ii qua ngàm Canon EF-Sony NEX  Viltrox II . Ống kính IRIX 15mm f/2.4 cũng có ngàm Canon và sử dụng chung ngàm chuyển này để thực hiện so sánh.

   Hiện nay, Samyang 14mm f/2.8 đã có phiên bản có khả năng AF dành cho máy Sony không gương lật ngàm Ephiên bản chất lượng cao Samyang XP 14mm f/2.4 (cũng là ống kính MF, ngàm DSLR). Các phiên bản này ra đời sau và đều được cải thiện chất lượng so với Samyang 14mm f/2.8 bản MF đầu tiên này, tuy nhiên chất lượng các ống kính này sẽ được đánh giá sau khi Vsion có điều kiện.
By Dr. Fox 13 Dec, 2017
   Với những người mới làm quen với nhiếp ảnh hay mới thay đổi thiết bị với kích cỡ cảm biến, tiêu cự thay đổi thì có những câu hỏi đã trở nên rất phổ biến như: Với tiêu cự này thì phải chụp bán thân / toàn thân từ cách bao xa? Ống kính 85mm f/1.2 với 135mm f/2 để chụp ra cùng khung hình thì khi dùng ống 135mm phải lùi thêm bao xa? Hai ống này có mức độ "xóa phông" khác nhau như thế nào?... Những câu hỏi này có thể giúp người dùng hình dung được hiệu ứng và khoảng không gian cho phép để sử dụng một bộ thiết bị nhất định, nhưng có phải ai cũng có đủ kinh nghiệm để trả lời những câu hỏi đó chính xác không?

   Để đáp ứng cho nhu cầu này,  Michael Bemowski  đã viết ra một phần mềm giả lập hiệu ứng ảnh tên là DOF simulator chạy trên nền tảng Web hoặc Android. Các bạn có thể vào địa chỉ:  https://dofsimulator.net/en/  (phiên bản trên Web) hoặc download phần mềm về thiết bị chạy Android qua link sau:  https://play.google.com/store/apps/details?id=pl.michalbemowski.dofsimulator&hl=en

   Trong bài viết này, Vsion sẽ hướng dẫn các bạn dùng phần mềm này để trả lời những câu hỏi như ở trên. Khi bạn vào trang Web của DOF simulator thì bạn sẽ thấy giao diện như ở dưới. Mình sẽ giải thích vai trò của các thông số theo các phần 1, 2, 3 như đánh dấu ở bên trái hình.
By N.Đ.Phan 11 Dec, 2017
Trải nghiệm với lens Contax G trên hệ máy Sony mirrorless tốt hay không? Chất lượng của lens Contax G như thế nào? Có xứng đáng để sử dụng và đầu tư các loại ngàm chuyển đắt tiền hay không? Câu hỏi đã được đặt ra khá nhiều trên các group ảnh và Vsion xin đưa ra một câu trả lời ngắn gọn sau trước khi đi vào bài viết - KHÓ CÓ ỐNG KÍNH MF CỔ NÀO CÓ THỂ VƯỢT QUA CHẤT LƯỢNG CỦA CONTAX G TRONG CÙNG TẦM GIÁ. 

Tại sao lại là Sony? 
Contax G chỉ có thể chơi trên máy số thông qua những chiếc máy mirrorless, và Sony là hệ thống duy nhất có Fullframe mirrorless để mang lại trải nghiệm chính xác và tuyệt vời nhất dành cho Contax G. 

Vậy tại sao lại cần trải nghiệm Contax G?  Contax G vẫn là lựa chọn hàng đầu của người viết cho một hệ ống kính với chất lượng quang học tuyệt vời, giá thành hợp lý, có khả năng AF với Sony A7 series, cực kỳ nhỏ gọn và một lý do rất quan trọng khác... hệ máy và ống kính Contax G rất đẹp và sang trọng. 
More Posts
Share by: