Thế nào là "1 stop phơi sáng" trong nhiếp ảnh?

  • By Vsion team
  • 13 Jul, 2017

   Sự phơi sáng trong nhiếp ảnh được kiểm soát bởi 3 yếu tố: tốc độ màn trập, khẩu độ ống kính và giá trị ISO. "Stop" giúp bạn so sánh trực tiếp và thay đổi 3 yếu tố này để đạt được lượng ánh sáng phù hợp nhất cho bức ảnh của mình. Trong nhiếp ảnh, khi nói đến "stop", nhiều người mới bắt đầu rất hay hiểu nhầm và cảm thấy nó quá phức tạp. Tuy nhiên, trên thực tế, "stop" lại rất đơn giản, dễ nắm bắt và kiểm soát:

   1 stop là là giá trị thể hiện khi tăng gấp đôi (x 2) hoặc giảm một nửa (: 2) số lượng ánh sáng đi vào khi chụp một bức ảnh.

   Ví dụ, khi bạn nghe thấy một người nói anh ta sẽ tăng giá trị ánh sáng lên 1 stop, tức là anh ta muốn tăng gấp đôi lượng ánh sáng so với bức ảnh được chụp trước đó.

Một bức ảnh của tác giả Hamed Saber, thể hiện sự chênh lệch ánh sáng giữa các stop

   Stop và Tốc độ màn trập

   Tốc độ màn trập cho biết thời gian màn trập trên máy mở ra là bao lâu khi chụp một bức ảnh. Thời gian mở màn trập càng dài, ánh sáng vào càng nhiều và độ phơi sáng sẽ càng mạnh. Chia đôi hay nhân đôi tốc độ màn trập sẽ có tác dụng tăng hay giảm 1 stop phơi sáng.

   Ví dụ, thay đổi tốc độ màn trập từ 1/100 lên 1/200 sẽ giảm đi một nửa lượng ánh sáng đi vào, như vậy chúng ta có thể nói là chúng ta đã giảm đi 1 stop ánh sáng. Tương tự, nếu như thay đổi tốc độ màn trập từ 1/60 xuống 1/30 sẽ tăng gấp đôi lượng ánh sáng đi vào, tương ứng với tăng 1 stop ánh sáng. Hầu hết các máy ảnh hiện nay đều cho chúng ta thay đổi tốc độ màn trập tương ứng với 1/3 stop, 3 lần xoay bánh xe mới là thay đổi 1 stop.

   Stop và độ nhạy sáng (ISO)

   ISO cho biết khả năng nhạy sáng của cảm biến máy ảnh đến đâu so với ánh sáng. Một cảm biến nhạy hơn sẽ cho ra độ phơi sáng tương đương với máy khác, dù chỉ thu được lượng ánh sáng ít hơn. Có nghĩa là bạn có thể sử dụng khẩu bé hơn hoặc tốc độ màn trập nhanh hơn trong cùng một điều kiện chụp ảnh.

   ISO được quy định và sử dụng các giá trị dựa trên thang ASA ( American standard speed numbers  ) dành cho film, giá trị ISO càng cao thì độ nhạy của cảm biến càng cao. Giống như tốc độ màn trập, tăng gấp đôi giá trị ISO cũng tương ứng với tăng 1 stop phơi sáng, và giảm một nửa giá trị ISO là giảm đi 1 stop phơi sáng.

   Ví dụ, tăng ISO từ 100 lên 200 tương ứng với tăng 1 stop. Giảm từ ISO 800 xuống 400 tương ứng với giảm 1 stop. Hầu hết các máy ảnh đều cho bạn thay đổi giá trị ISO tương ứng với 1 stop, có một số ngoại lệ như ISO 160 hay 320....

   Stop và khẩu độ ống kính

   Khẩu độ được đo lường sử dụng số F  hay còn gọi là "f-number" , đôi khi gọi là "f-stop" , mô tả đường kính của khẩu độ. Một số f-number có giá trị thấp sẽ tương ứng với độ mở ống kính lớn (tương đương với việc ánh sáng sẽ đi vào nhiều hơn), trong khi đó f-number có giá trị cao nghĩa là độ mở ống kính càng hẹp (ít ánh sáng đi vào).

   Do cách tính f-numbers khá khác biệt, nên việc tăng gấp đôi hay chia nửa sẽ không tương ứng với việc tăng hay giảm 1 stop, bạn phải nhân và chia với số 1.41 (tương ứng với căn bình phương của 2). Ví dụ, từ f/2.8 đến f/4 sẽ là giảm 1 stop phơi sáng do 4 = 2.8 * 1.41. Từ f/16 đến f/11 là tăng 1 stop phơi sáng do 11 = 16 / 1.41. Tương tự với tốc độ màn trập, hầu hết các máy ảnh cho phép bạn thay đổi khẩu độ tương ứng với 1/3 stop.

    Stop có thể thay đổi

   Stop cho chúng ta cách thức để có thể so sánh trực tiếp các giá trị trong tam giác phơi sáng: tốc độ màn trập, khẩu độ và ISO. Bạn có thể tùy biến các giá trị này để đạt được độ phơi sáng hợp lý nhất.

   Ví dụ, bạn đang chụp một khung cảnh với tốc độ 160, f/8 và ISO 200. Bạn thấy khung cảnh đã đủ ánh sáng, tuy nhiên lại hơi bị mờ do out-net, bạn cảm thấy sẽ cần phải giảm tốc độ màn trập xuống 1/120 để đảm bảo bắt nét chính xác các chủ thể. 

   Thay đổi 1 stop trong tốc độ màn trập như thế này sẽ làm giảm ánh sáng đi vào, bức ảnh sẽ trở nên tối hơn do bạn đã giảm đi một nửa lượng ánh sáng chui vào cảm biến. Bạn sẽ phải tìm cách bù trừ 1 stop này bằng cách thay đổi các giá trị khác, rất đơn giản.

   Một là bạn mở khẩu độ to hơn để ánh sáng đi vào nhiều hơn, thay đổi từ f/8 thành f/5.6 để tăng 1 stop ánh sáng, hoặc có thể tăng ISO từ 200 lên 400 cũng sẽ cho ra kết quả tương tự.

    Lưu ý khi thay đổi giá trị phơi sáng:

   Tốc độ màn trập - Nếu tốc độ màn trập quá thấp, bức ảnh của bạn có thể bị mờ do bắt nét chủ thể chưa đủ nhanh hoặc tay bạn bị rung khi cầm các ống kính to nặng hay chụp trong tối.

   Khẩu độ - Khẩu độ to sẽ có độ sâu trường ảnh mỏng, như vậy nếu bạn mở quá to ống kính, bạn sẽ không thể có tất cả chủ thể cùng được nét. Ngược lại, nếu bạn khép ống kính quá bé, bạn sẽ không thể tách biệt được chủ thể khỏi môi trường khi chụp chân dung. Đây là những yếu tố về khẩu độ cần cân nhắc.

   ISO - Bạn càng tăng ISO, bức ảnh của bạn sẽ càng xuất hiện nhiều noise. Nó có thể sẽ khiến bức ảnh bị xấu đi hoặc làm giảm độ sắc nét và chi tiết.

   Giống như mọi nguyên tắc khác trong nhiếp ảnh, điều chỉnh những yếu tố này luôn phải đạt trạng thái cân bằng. Bạn phải quyết định đâu là hiệu ứng mình muốn trong các bức ảnh, và thiết lập các thông số và chế độ để đạt được hiệu quả lớn nhất mà không xảy ra rủi ro tiềm tàng dẫn đến bức ảnh bị thất bại vì không đúng kĩ thuật. Stop phơi sáng là một công cụ rất hữu dụng để đem ra cân nhắc và sử dụng, giúp bạn thay đổi các chế độ dễ dàng và kiểm soát chặt chẽ hơn nội dung và bối cảnh của mình.


Bài viết gốc: photographymad

N.Đ.Phan (P.N)
Bài viết được biên dịch bởi P.N.
Các bạn có thể liên hệ tác giả nếu muốn sử dụng lại bài viết
*** Để có thể comment bằng Disqus, đầu tiên các bạn cần đăng nhập bằng Facebook bằng cách click vào biểu tượng Facebook ở dưới
Bài viết mới

Vsion.vn

By Vsion team 01 Nov, 2017
   Với người sử dụng máy ảnh Sony không gương lật ngàm E thì kho ống kính ngàm A của Sony / Minolta là một nguồn ống kính rất phong phú với giá cả phải chăng và chất lượng tốt. Vì thế khi phát triển hệ thống máy ảnh ngàm E thì Sony cũng thiết kế các ngàm chuyển để người dùng có thể sử dụng được ống kính ngàm A trên máy ảnh ngàm E. Hiện nay có 4 loại ngàm chuyển tên là LA-EA ( L ens A dapter for E -mount cameras to use  A - mount lenses) được phân biệt như sau:

  • LA-EA1 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A có motor trong (SSM và SAM); ống kính không có motor lấy nét (điều khiển qua ốc vít) của Minolta và một số ống kính của Sony chỉ có thể lấy nét tay chứ không AF được. Ngàm này không có kính mờ (translucent mirror) ở giữa.

  • LA-EA2 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A không có motor trong (điều khiển qua ốc vít). Ngàm này có sử dụng kính mờ ở giữa ngàm nên làm giảm 30% lượng ánh sáng đi qua ống kính. Để điều khiển lấy nét, ngàm có hệ thống motor lấy nét nằm trong ngàm và hoạt động độc lập với camera nên tốc độ lấy nét, số điểm lấy nét không phụ thuộc máy ảnh. Ngàm sử dụng 15 điểm lấy nét theo pha (PDAF) trong đó có 3 điểm là cross-type .

  • LA-EA3 : giống LA-EA1 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame (ống kính crop sẽ không bao phủ được toàn bộ cảm biến).

  • LA-EA4 : giống LA-EA2 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame. LA-EA4 hoạt động được với tất cả ống kính ngàm A của Minolta, Sony, Tamron, Sigma, ngoại trừ các ống kính Minolta AF Xi.
By Vsion team 31 Oct, 2017
   Vào những năm 1850, nhiếp ảnh đã trở nên phổ biến và đỡ tốn kém hơn với nhiều người. Đây cũng là nguyên do dẫn tới một trào lưu trong thời kỳ Victoria (thời kỳ trị vì của Nữ hoàng Anh quốc Victoria từ 1837 tới 1901) gọi là trào lưu chụp ảnh cùng người mới chết ( post-mortem photography ) khi người chết được chụp ảnh trong cùng album với những người thân thích trong gia đình. Dưới đây là 2 phút video tài liệu về trào lưu này được thực hiện bởi kênh HISTORY .

   Được biết tới với cái tên memento mori (nghĩa là " hãy nhớ là bạn phải chết " - " remember you must die "), trào lưu này ngày càng trở nên thịnh hành và ngay cả Nữ hoàng Victoria cũng ngủ dưới tấm hình người chồng quá cố của mình.
By Vsion team 30 Oct, 2017
   Sigma là tập đoàn sản xuất thiết bị ngành ảnh lâu đời của Nhật được ra đời vào năm 1961 bởi Michihiro Yamaki và ông cũng là CEO của công ty cho tới khi qua đời vào năm 2012. Vẫn được biết đến như một công ty sản xuất ống kính cho các hệ máy ảnh của các hãng lớn và phục vụ hệ máy ảnh của chính công ty mình, các ống kính của Sigma có thể hoạt động trên các máy ảnh DSLR của Canon, Nikon, Pentax thông qua quá trình thiết kế bắt chước phương thức lấy nét tự động (AF) của các loại máy ảnh này. Các ống kính của Sigma có chất lượng thường được xếp sau các ống kính "chính hãng" và có mức giá dễ chịu hơn.

   Vào năm 2013, sau khi Michihiro Yamaki mất, Sigma cũng bắt đầu một cuộc cách mạng mới được đánh dấu với sự ra đời của dòng ống kính Global Vision với các ống kính được nâng cấp từ các ống kính hãng đã từng chế tạo theo tiêu chuẩn cao và nghiên cứu phát triển những ống kính mới chưa từng xuất hiện trên thị trường. Một điểm đặc biệt nữa của các ống kính Global Vision là Sigma lần đầu tiên nhận thay ngàm cho các ống kính này nếu người sử dụng có nhu cầu đổi hệ máy mà không muốn đổi ống kính. Ngoài ra, các ống kính Global Vision đều tương thích với Sigma USB Dock là một thiết bị kết nối trực tiếp với ống kính thông qua ngàm tương thích và điều khiển thông qua máy vi tính để cân chỉnh khả năng focus của ống kính, giúp người dùng có thể tự điều chỉnh ống kính khi độ chính xác chưa được như mong muốn.
By Vsion team 27 Oct, 2017
   Sau 2 năm rưỡi kể từ ngày Sony công bố A7R mark II (tháng 6 năm 2015), ngày hôm qua Sony đã chính thức công bố thế hệ thứ ba của chiếc máy ảnh full frame không gương lật cao cấp này. Trái với thứ tự ưu tiên công bố, thay vì công bố máy A7 dòng R (High Resolution - độ phân giải cao) sau A7 thì lần này Sony công bố A7R mark III  (hay A7RIII ) đầu tiên trong series mới. Động thái này có thể là lời đáp trả của Sony với sự kiện Nikon công bố máy ảnh full frame DSLR thế hệ mới D850 hồi tháng 4. Đây là một bất ngờ lớn với cộng đồng nhiếp ảnh vì những thông tin gần đây nhất có được đều hướng về A7 mark III. So với A7RII thì A7RIII có nhiều nâng cấp nhỏ thay vì cải tiến đột phá về công nghệ, thế nên chúng ta hãy nhìn vào chi tiết các tính năng và đặc điểm mới của chiếc máy này xem nó có phải một phiên bản tốt hơn hẳn thế hệ trước hay không.

   Bài viết này của Vsion chỉ tập trung phân tích các đặc tính được công bố của hãng cùng thông tin bổ sung từ các reviewer nên chúng ta vẫn cẩn xác nhận lại khi chiếc máy ảnh này đến tay người dùng. Cuối bài viết, chúng tôi cũng cung cấp bảng so sánh chi tiết A7RIII so với A7RII và Nikon D850 để bạn đọc có thể có cái nhìn đầy đủ về mối tương quan của chiếc máy ảnh này với hai lựa chọn gần với nó trên thị trường.
By Vsion team 18 Oct, 2017
   Chắc hẳn sẽ có lúc nào đó trong chuỗi ngày cầm máy ảnh, bạn sẽ thấy bí bách với những tấm ảnh mình thường chụp, với mức độ "xóa phông" của ống kính mình hay dùng, với những câu hỏi căn bản như ảnh của mình có lấy đúng nét hay không, bokeh có mịn màng không... Hoặc bạn sẽ thấy ống kính của mình rất giới hạn ở khả năng chụp gần, không tạo hiệu ứng 3D, khó tạo điểm nhấn đặc biệt... Nếu bạn gặp phải những chuyện này thì đó là chuyện hoàn toàn bình thường và rất dễ gặp khi chúng ta bị gò bò trong cách sử dụng các thiết bị các bạn đang có trong tay. Khi bắt đầu loạt bài viết Vượt qua giới hạn thiết bị , mình có suy nghĩ là muốn giới thiệu với các bạn những cách tiếp cận để tăng hiệu quả quang học của thiết bị và làm tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí quang học như đạt DOF mỏng hơn giới hạn, khử noise tốt hơn khả năng của máy, tuy nhiên một tấm ảnh đẹp không nhất thiết phải là một tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí chất lượng hình ảnh. Nếu như hai bài viết trước giúp các bạn phần nào cải thiện giới hạn trên của các thiết bị, trong bài viết thứ ba này mình muốn giới thiệu tới các bạn cách để vượt qua... giới hạn dưới của ống kính. Freelensing là tên của kỹ thuật nhiếp ảnh (hay lens whacking trong quay phim) giúp chúng ta gỡ bỏ những ràng buộc của ống kính và máy ảnh, làm tấm ảnh bộc lộ rõ những "điểm yếu về quang học" mà chúng ta thường tránh như hiện tượng lệch mặt phẳng nét, giảm độ nét hay bị light leak và flare khắp mọi nơi, nhưng đó mới là những thứ chúng ta cần khai thác để tạo ra những tấm ảnh có phong cách mới lạ và sáng tạo.

   Đầu tiên, mời các bạn xem video dưới đây do tác giả James Miller thực hiện hoàn toàn bằng phương pháp lens whacking để hiểu được hiệu ứng chúng ta sẽ đạt được bằng phương pháp này.
By Vsion team 13 Oct, 2017
   Ngày nay khá nhiều người mới tập sử dụng máy ảnh với ống kính AF có thể ngạc nhiên khi nhắc tới khái niệm lỗ khẩu hay lá khẩu, và khái niệm khẩu độ chỉ thể hiện bằng con số có thể điều chỉnh trên máy ảnh. Lý do là hiện nay máy ảnh đã được thiết kế để người dùng không phải điều chỉnh khẩu độ bằng tay thông qua cơ chế cơ học nữa (tuy nhiên vẫn có những loại ống kính cho phép điều khiển vòng khẩu độ mặc dù nó được điều khiển điện) và lá khẩu chỉ đóng rất nhanh khi chụp ảnh. Vì thế nên nếu các bạn không để ý, cũng dễ hiểu khi các bạn chưa từng nhìn thấy hình dạng cái lỗ khẩu nó ra làm sao.

   Vai trò của lỗ khẩu là một vị trí trong ống kính có thể điều khiển diện tích thông qua việc đóng, mở các lá khẩu và thay đổi lượng ánh sáng đi qua ống kính, từ đó giúp bạn điều chỉnh độ sâu trường ảnh, độ nét, mức độ sáng của hình. Trong thời kỳ ống kính chưa có hệ thống motor điều khiển lấy nét tự động thì các ống kính nhiếp ảnh đều có vòng khẩu độ nằm trước hoặc nằm sau vòng lấy nét để giúp bạn điều chỉnh giá trị f-stop. Do việc điều chỉnh khẩu độ hoàn toàn là cơ học nên một thao tác quan trọng khi dùng máy film để lấy nét là bạn mở vòng khẩu độ ra hết cỡ để lấy nhiều ánh sáng nhất có thể (nếu không viewfinder sẽ tối), sau đó lấy nét vào điểm mong muốn rồi mới hạ vòng khẩu độ này xuống giá trị f-stop bạn cần để chụp. Để phục vụ cho nhu cầu này, nhiều ống kính lấy nét tay (MF) có thêm một vòng khẩu độ nữa, có tác dụng giới hạn vòng khẩu độ thứ hai. Đây gọi là các ống kính pre-set (xác lập trước) mà khi sử dụng bạn cần chỉnh một vòng khẩu độ đến giá trị mong muốn, sau đó vặn vòng khẩu độ thứ hai di chuyển rất nhanh giữa vị trí mở khẩu độ lớn nhất và vị trí bạn đã xác lập trước mà không cần phải nhìn lại thân ống kính.
More Posts
Share by: