Đánh giá chi tiết: Sony 35mm f/1.8 vs. Sigma 30mm f/1.4 DC DN vs. Sigma 30mm f/2.8 DN Art

  • By Vsion team
  • 23 Mar, 2017
   Trong số những ống kính dành cho ngàm E (crop APS-C) của Sony hiện nay, có 3 ống kính cho góc nhìn 50mm tiêu chuẩn phổ thông: Sony E 35mm f/1.8 OSS, Sigma 30mm f/1.4 DC DN Contemporary và Sigma 30mm f/2.8 DN Art. Với sự tăng trưởng và ngày càng phổ biến của dòng máy ảnh alpha series, a5000/a6000/a6300/a6500, những ống kính góc 50mm này đang ngày càng được quan tâm nhiều hơn và luôn nằm trong danh sách những ống kính được săn đón nhiều nhất trên thị trường, nhờ mức giá hợp lý và độ tiện dụng của nó. Trong bài so sánh sau đây, chúng ta sẽ cùng xem xét chất lượng quang học, sự tiện dụng và hiệu quả của từng ống kính ra sao. Mục đích chính là để giúp bạn có thể tìm ra được ống kính phù hợp với nhu cầu của bạn nhất.
   THÔNG SỐ
Tên ống kính Sony E 35mm f/1.8 OSS Sigma 30mm f/1.4 DC DN Contemporary
Sigma 30mm f/2.8 DN Art
Góc nhìn ống kính 44 độ / tương đương 52.5 mm full frame 50.7 độ / tương đương 45 mm full frame
Khoảng khẩu độ f/1.8 - f/22 f/1.4 - f/16 f/2.8 - f/22
Số lá khẩu 7 lá khẩu 9 lá khẩu 7 lá khẩu
Chất liệu vòng lấy nét Hợp kim nhôm và nhựa chất lượng cao Kim loại và vật liệu composite chịu nhiệt của Sigma (TSC) Kim loại và nhựa chất lượng cao
Đường kính filter 49mm 52mm 46mm
Focus Autofocus Autofocus Autofocus
Chống rung Có (Sony OSS) Không có
Thiết kế quang học 8 thấu kính / 6 nhóm 9 thấu kính / 7 nhóm 7 thấu kính / 5 nhóm
Khoảng cách lấy nét gần nhất 30cm (phóng đại 0.15x) 30cm (0.14x) 30mm (0.12x)
Chống chịu thời tiết Không có
Ngàm Sony E (crop / APS-C)
Chiều dài 45mm 73.3mm 40.5mm
Khối lượng 154g 263g 140g
Vòng khẩu Không có Không có
   THIẾT KẾ VÀ SỰ THUẬN TIỆN KHI SỬ DỤNG
   Cả 3 ống kính 35mm f/1.8, 30mm f/1.4 và 30mm f/2.8 đều được coi là các ống "tiêu chuẩn" do có góc nhìn tương đương tiêu cự 50mm trên full-frame (47°). Đây là tiêu cự thông dụng có thể sử dụng cho ảnh đường phố, sự kiện, chân dung hay du lịch, ống 50mm luôn là lựa chọn đầu tiên của bất kỳ ai khi mới bắt đầu chơi ảnh và đã nhận ra sự hạn chế của lens kit đi kèm máy. Trong 3 ống kính này thì 2 ống Sigma có góc nhìn rộng hơn một chút (45mm) so với ống của Sony (tương đương góc nhìn ống kính 52.5mm trên máy full frame).
   Trong 3 ống kính thì 30mm f/1.4 có khẩu lớn nhất nhưng lại không có f/22 so với 2 ống kính còn lại. Đây cũng là ống kính có kích thước lớn nhất. Nó dài gần gấp đôi ống 35mm f/1.8 và 30mm f/2.8, kể cả về trọng lương, do có khẩu lớn hơn và thiết kế thấu kính phức tạp hơn. Mặc dù vậy, đây vẫn là một lựa chọn cực tốt đối với hệ APS-C của Sony và hầu như bạn sẽ không để ý đến kích thước của nó khi chụp thực tế đâu, nếu như so với các hệ ống kính và máy khác.

   Mặc dù không ống nào có khả năng chống chịu thời tiết, cả 3 ống đều được làm với chất liệu cao cấp, thân làm bằng nhựa và kim loại chắc chắn. Trong 3 ống kính thì ống Sony 35mm f/1.8 nhẹ nhất do có ít phần kim loại trên thân nhất.

   Cả 3 ống kính đều sử dụng cơ chế lấy nét "fly-by-wire" trên thân. Trong 3 ống thì Sigma 30mm f/1.4 cho cảm giác lấy nét bằng tay mượt mà nhất. Tuy nhiên thì ống kính Sony 35mm f/1.8 lại dễ tháo ra lắp vào nhất do vòng lấy nét ngắn và mỏng hơn so với 2 ống Sigma.

   Ngoài vòng lấy nét, bạn sẽ không tìm thấy các chi tiết gì khác trên ống kính, không có nút bấm hay vòng khẩu trên các ống. Cả 3 ống đều có khoảng cách lấy nét gần nhất là 30cm.
   Đi kèm với các ống kính đều có hood nhỏ bằng nhựa để chống loá và bảo vệ kính trước. Sel 35mm f/1.8 có hình cánh hoa, Sigma thì có hình tròn.
   Chỉ duy nhất ống kính 30mm f/2.8 là có 2 màu bạc và đen, 2 ống còn lại chỉ có duy nhất màu đen được bán.
   CHẤT LƯỢNG QUANG HỌC

a6300, 1/40, f/8, ISO 200 – 35mm f/1.8

a6300, 1/3200, f/2.8, ISO 200 – 30mm f/1.4

a6300, 1/320, f/5.6, ISO 100 – 30mm f/2.8

   ĐỘ NÉT
   Để so sánh độ nét của các ống kính, kết quả được chụp từ nhiều khẩu độ và khoảng cách xa gần khác nhau.

   Ở khoảng cách xa, với khẩu lớn nhất, bạn có thể thấy rõ ống kính 30mm f/2.8 nét hơn cả 2 ống 30mm f/1.4 và 35mm f/1.8. Điều này là không quá ngạc nhiên, do các ống kính có khẩu độ lớn như f/1.4 hay f/1.8 khó đạt được độ nét tốt ngay tại khẩu lớn nhất như f/2.8. Sony 35mm f/1.8 nét hơn Sigma 30mm f/1.4 một chút, nhưng điều này cũng có thể được giải thích do sự khác biệt về khẩu độ.
     Khép xuống f/2 cũng không cải thiện nhiều về độ nét cho 2 ống 35mm f/1.8 hay 30mm f/1.4
   Khép xuống f/2.8 thì kết quả có vẻ cân bằng hơn, tuy nhiên nếu nhìn vào chi tiết chỗ hàng rào hay bức tường thì micro-contrast của 30mm f/2.8 và 35mm f/1.8 có vẻ tốt hơn.
   Tại f/4, ống kính 30mm f/2.8 đạt độ nét tối ưu nhất, khác biệt về độ nét giữa 3 ống kính là không đáng kể.
   Tại f/5.6, Sigma 30mm f/1.4 và Sony 35mm f/1.8 lại vượt lên trên Sigma 30mm f/2.8 một chút. Do hiện tượng tán xạ (diffraction) bắt đầu xuất hiện với ống này ngay tại f/5.6. Tuy nhiên tại f/8, kết quả lại có vẻ tiếp tục cân bằng, hiện tượng tán xạ bắt đầu xuất hiện ở trên 2 ống kính còn lại. Độ tương phản của 3 ống kính cũng kém hơn tại giá trị khẩu độ này.
     f/11 vẫn cho ra kết quả tương đối ổn, tuy nhiên nên tránh dùng khẩu độ này thì sẽ ổn hơn.
   So sánh 3 ống kính ở khoảng cách gần hơn, khoảng 1.5m đến chủ thể, kết quả lại có vẻ khác đi nhiều. Tại khẩu độ lớn nhất, kết quả 3 ống kính lại rất tương đồng mặc dù khẩu độ lớn nhất của 35mm f/1.8 và 30mm f/1.4 lớn hơn 30mm f/2.8 rất nhiều.
   Khép xuống f/2.8, cả 35mm f/1.8 và 30mm f/1.4 đều vượt trội so với 30mm f/2.8.
   Tại f/4, kết quả khá tương đồng như chi tiết trên cửa gỗ cho thấy ống Sigma 30mm f/1.4 cho độ nét và chi tiết tốt nhất.
   Từ f/5.6 cho đến f/11, kết quả rất giống nhau và khó có thể phân biệt được. Độ nét tối ưu rơi vào khoảng f/5.6 và hiện tượng tán xạ bắt đầu xuất hiện từ f/8.
   Về độ nét tại góc, bạn có thể thấy rõ 2 ống kính Sigma tốt hơn Sony tương đối cho đến f/5.6.
   Như vậy, mỗi ống kính đều đã cho thấy điểm mạnh và điểm yếu của mình ở trong các điều kiện khác nhau. Mặc dù có giá rẻ nhất, Sigma 30mm f/2.8 cho kết quả cực tốt tại khẩu lớn nhất và f/4 đối với khoảng cách xa và vô cực, trong khi Sigma 30mm f/1.4 vượt trội tại khoảng cách lấy nét gần, tại cả f/1.4 và f/2. Sony 35mm f/1.8 thì khá cân bằng trong mọi điều kiện, kể cả chủ thể ở xa hay gần, điểm yếu duy nhất là độ nét tại rìa không tốt lắm.
   BOKEH

   Một yếu tố quan trọng khác cần được đánh giá là bokeh của từng ống kính, nhất là với Sigma 30mm f/1.4 và Sony 35mm f/1.8 với khẩu độ lớn.

   So sánh 3 ống kính tại khẩu lớn nhất, Sigma 30mm f/1.4 cho hiệu ứng bokeh mềm mại và dễ chịu nhất. Hình dạng bokeh ở cả 3 ống kính đều tròn, ra rìa thì bắt đầu méo dần. Ống 35mm f/1.8 và 30mm f/1.4 cho bokeh "mắt mèo" rõ nhất ở phần rìa.

Sigma 30mm f/1.4 at f/1.4

Sony 35mm f/1.8 at f/1.8

Sigma 30mm f/2.8 at f/2.8

   Tại f/1.7, bokeh của Sigma 30mm f/1.4 cũng tròn hơn và dễ chịu hơn so với 35mm f/1.8 tại f/1.8.

Sony 35mm f/1.8 at f/1.8

Sigma 30mm f/1.4 at f/1.7

   Tương tự đối với khẩu độ f/2 trên 2 ống kính.

Sony 35mm f/1.8 tại f/2

Sigma 30mm f/1.4 tại f/2

Sony 35mm f/1.8 tại f/2

   Tại khẩu độ tương đồng f/2.8, Sony 35mm f/1.8 và Sigma 30mm f/1.4 có hiệu ứng khá giống nhau, tuy nhiên hình dạng trên bokeh của Sony nhìn nhức mắt hơn một chút. Sigma 30mm f/2.8 có bokeh bé nhất, còn hiệu ứng cũng khá giống với 2 ống kính còn lại.

Sony 35mm f/1.8 at f/2.8

Sigma 30mm f/2.8 at f/2.8

   Nhìn vào những bức ảnh trên đây và cả những bức ảnh trong phần so sánh độ nét, Sigma 30mm f/1.4 thực sự là lựa chọn tuyệt vời nhất cho việc chụp chân dung, khẩu lớn nhất, bokeh mềm mại nhất và độ nét tốt nhất với chủ thể ở gần. Tiếp theo mới đến Sony 35mm f/1.8 và Sigma 30mm f/2.8.
   LOÁ, QUANG SAI VÀ ĐỘ MÉO
   Cả 3 ống kính đều khử loá và ghost khá tốt. Trong vài trường hợp nếu chụp thẳng mặt trời như ảnh dưới dây thì ghost và loá sẽ xuất hiện đôi chút, nhưng không phải là vấn đề lớn với cả 3 ống kính này.

Sigma 30mm f/1.4

Sony 35mm f/1.8

Sigma 30mm f/2.8

   Quang sai (viền tím) xuất hiện tại khẩu lớn nhất với cả 3 ống kính, tuy nhiên có thể được khử dễ dàng trong Lightroom với profile của từng ống kính. Sony 35mm f/1.8 chịu quang sai lớn nhất cho đến f/4, Sigma 30mm f/2.8 chỉ bị tại f/2.8 còn Sigma 30mm f/1.4 bị nặng nhất tại f/2.

35mm f/1.8 at f/4

30mm f/2.8 at f/2.8

30mm f/1.4 at f/2

   Khử méo và tối góc đều được xử lý tự động trong Lightroom với Sony 35mm f/1.8 và Sigma 30mm f/2.8. Với Sigma 30mm f/1.4, bạn phải tự lựa chọn trong phần Lens Corrections.

   Nếu không sử dụng profile, hiện tượng méo là khá rõ với cả 3 ống kính, tệ nhất là Sigma 30mm f/1.4.

Sony 35mm f/1.8 – Không có profile

Sony 35mm f/1.8 – Có profile

Sigma 30mm f/2.8 – Không có profile

Sigma 30mm f/2.8 – Có profile

Sigma 30mm f/1.4 – Không có profile

Sigma 30mm f/1.4 – Có profile

   Về hiện tượng tối góc, Sony 35mm f/1.8 bị tối góc hơn so với 2 ống kính Sigma, tuy nhiên nếu sử dụng profile thì bạn sẽ khó nhận ra hiện tượng này.

   Nếu như bạn chỉ định chụp với JPGs, cách tốt nhất để hạn chế tối góc, viền tím và méo là bật hết tất cả các lựa chọn trong phần menu Lens Comp. ở trên máy Sony (Shading Comp., Chro. Aber. Comp., Distortion Comp.) sang Auto. Nó không có hiệu quả lắm trong việc khử viền tím tại khẩu lớn nhất nhưng lại xử lý méo và tối góc rất tốt.

   Về hiện tượng tối góc, Sony 35mm f/1.8 bị tối góc hơn so với 2 ống kính Sigma, tuy nhiên nếu sử dụng profile thì bạn sẽ khó nhận ra hiện tượng này.

   Nếu như bạn chỉ định chụp với JPGs, cách tốt nhất để hạn chế tối góc, viền tím và méo là bật hết tất cả các lựa chọn trong phần menu Lens Comp. ở trên máy Sony (Shading Comp., Chro. Aber. Comp., Distortion Comp.) sang Auto. Nó không có hiệu quả lắm trong việc khử viền tím tại khẩu lớn nhất nhưng lại xử lý méo và tối góc rất tốt.
   GÓC NHÌN
   Góc nhìn của ống Sony hẹp hơn một chút so với 2 ống còn lại do tiêu cự dài hơn. Điều thú vị là cả 2 ống Sigma lại có góc nhìn hơi khác nhau dù cùng một tiêu cự. 30mm f/2.8 có vẻ có góc nhìn rộng hơn 30mm f/1.4 kể cả khi chụp xa hay gần.

Sigma 30mm f/1.4

Sigma 30mm f/2.8

Sigma 30mm f/1.4

Sigma 30mm f/2.8

   Một điều thú vị khác là dù góc nhìn khác nhau, nhưng ở khoảng cách lấy nét gần nhất với 30mm, cả 3 ống kính có góc nhìn và bố cục rất giống nhau, đặc biệt là 2 ống 35mm f/1.8 và 30mm f/1.4. Điều này có thể được giải thích là Sigma 30mm f/1.4 có hiện tượng "focus breathing" nặng hơn so với 2 ống kính còn lại.

Sony 35mm f/1.8

Sigma 30mm f/1.4

Sigma 30mm f/2.8

   CHỐNG RUNG

   Chỉ duy nhất Sony 35mm f/1.8 có chức năng chống rung. Với những người sử dụng thân máy không có chức năng chống rung (ngoại trừ a6500), có chức năng chống rung trên ống kính sẽ rất hữu dụng khi chụp với tốc độ thấp.

   Với 35mm f/1.8, chụp ở tốc độ 1/3 hay kể cả 0.4s cũng vẫn cho ra được ảnh nét tốt. Với Sigma, kết quả an toàn nhất chỉ khoảng 1/15 giây mà thôi.

a6300, 0.4s, f/1.8, ISO 400

    KHẢ NĂNG LẤY NÉT

   Để so sánh khả năng lấy nét, cả 3 ống kính được sử dụng trên máy a6300, với firmware mới nhất (version 1.10).

  • Sony 35mm f/1.8 là ống kính duy nhất hoàn toàn tương thích với hệ thống lấy nét PDAF của a6300. Nếu bạn chuyển sang chế độ C-AF và khu vực lấy nét rộng Wide focus area, vùng lấy nét màu xanh của PDAF sẽ sáng toàn bộ khu vực bất kể đối tượng của bạn đang di chuyển như thế nào.
  • Với Sigma 30mm f/1.4, hệ thống PDAF chỉ hoạt động tại khu vực trung tâm. Nếu chủ thể dịch chuyển khỏi khu vực trung tâm, camera sẽ chỉ sử dụng hệ thống lấy nét bằng tương phản (contrast detection AF). Hy vọng ống kính sẽ được nâng cấp firmware để tương thích hoàn toàn với hệ thống PDAF này.
  • Sigma 30mm f/2.8 là hạn chế nhất, PDAF chỉ sử dụng trong khu vực trung tâm, rất hẹp.

   Với chế độ S-AF, cả 3 ống đều lấy nét nhanh nhưng không nhanh bằng những ống khác trong hệ E-mount. Trong điều kiện thiếu sáng hay tương phản thấp, hiện tượng hunting sẽ xuất hiện đôi chút. Ngạc nhiên là, trong những trường hợp này thì 35mm f/1.8 và 30mm f/1.4 lại tệ hơn 30mm f/2.8.

   Cả 3 ống kính đều có cơ chế lấy nét gần như không tiếng động, và 30mm f/2.8 lại tỏ ra vượt trội. 35mm f/1.8  và Sigma 30mm f/1.4 đều có tiếng click khá nhỏ.

   Dưới dây bạn có thể theo dõi một video mô tả cơ chế lấy nét của cả 3 ống kính trên a6300:

   Khi quay video với chế độ C-AF, cả 3 ống kính có thể chuyển điểm lấy nét khá nhanh. Sigma 30mm f/1.4 chậm nhất (không nhiều), Sony 35mm f/1.8 và Sigma 30mm f/2.8 khá cân bằng.
    LẤY NÉT BẰNG TAY

   Với chế độ lấy nét bằng tay, cơ chế fly-by-wire hoạt động khá chính xác. Ống kính 30mm f/1.4 cho cảm giác dễ chịu nhất do vòng lấy nét to. Như đã mô tả lúc trước, 30mm f1.4 bị hiệu ứng "focus breathing" nhiều hơn so với 2 ống kính còn lại.

   KẾT LUẬN

   Trước khi bắt đầu bài so sánh này, có lẽ ai cũng nghĩ rằng 35mm f/1.8 và 30mm f/1.4 sẽ vượt trội hơn so với 30mm f/2.8, do chênh lệch về giá và khẩu độ, tuy nhiên kết quả lại có vẻ không như dự kiến.

   Đối với những người thích chụp chân dung, chắc chắn Sigma 30mm f/1.4 sẽ là lựa chọn tốt nhất. Với độ nét tốt nhất ở khoảng cách gần, bokeh mượt mà, hình dáng bokeh to, đây là lựa chọn hoàn toàn hợp lý.

   Sigma 30mm f/2.8 sẽ không phù hợp nếu như bạn thích có dof mỏng. Khẩu thấp, độ nét không bằng 35mm f/1.8 và 30mm f/1.4 khi chủ thể ở gần. Tuy nhiên độ nét tương đồng ở toàn khung hình từ f/2.8 đến f/8 ở khoảng cách xa lại rất đáng để cân nhắc, là một lựa chọn phù hợp cho ảnh đường phố, tư liệu hay cả phong cảnh. Giá thành cũng dễ chịu hơn nhiều so với 2 ống còn lại.

   Cuối cùng là Sony 35mm f/1.8, lựa chọn "cân bằng" nhất. Kết quả tốt ở tại mọi khẩu độ, phù hợp với tất cả các thể loại. Đặc biệt, nó là ống kính duy nhất có chức năng chống rung và tương thích hoàn toàn với hệ thống lấy nét của a6000/a6300/a6500. Chỉ có 2 điểm yếu duy nhất: độ nét rìa không tốt ở khẩu lớn (không quá quan trọng nếu chụp chân dung) và giá thành (đắt nhất trong 3 ống kính).

    Lựa chọn Sony 35mm f/1.8 nếu như:

  • Bạn cần ống kính nhỏ gọn cho Sony APS-C camera
  • Bạn chụp nhiều thể loại từ chân dung, đến đường phố hay phong cảnh
  • Bạn cần chức năng chống rung khi chụp trong điều kiện thiếu sáng
  • Bạn cần chụp nhiều chủ thể di chuyển nhanh (như trẻ con hay thú cưng) và cần hệ thống AF hoàn hảo

   Lựa chọn Sigma 30mm f/1.4 nếu như:

  • Bạn cần độ nét và bokeh tốt nhất cho chụp chân dung
  • Bạn hay chụp trong điều kiện thiếu sáng và cần khẩu độ f/1.4

   Lựa chọn Sigma 30mm f/2.8 PRO nếu như:

  • Bạn không có nhiều kinh phí
  • Bạn cần một ống kính nhỏ gọn cho Sony APS-C camera
  • Bạn chụp đường phố và phong cảnh là chính
  • Bạn ít khi chụp trong điều kiện thiếu sáng
   Ảnh mẫu
   Sony 35mm f/1.8
   Sigma 30mm f/1.4
   Sigma 30mm f/2.8
   Bài viết gốc: mi rrorlessco mparison
N.Đ.Phan (P.N.)
Bài viết được biên tập bởi P.N.
Các bạn có thể liên hệ tác giả nếu muốn sử dụng lại bài viết
*** Để có thể comment bằng Disqus, đầu tiên các bạn cần đăng nhập bằng Facebook bằng cách click vào biểu tượng Facebook ở dưới
Bài viết mới

Vsion.vn

By Vsion team 01 Nov, 2017
   Với người sử dụng máy ảnh Sony không gương lật ngàm E thì kho ống kính ngàm A của Sony / Minolta là một nguồn ống kính rất phong phú với giá cả phải chăng và chất lượng tốt. Vì thế khi phát triển hệ thống máy ảnh ngàm E thì Sony cũng thiết kế các ngàm chuyển để người dùng có thể sử dụng được ống kính ngàm A trên máy ảnh ngàm E. Hiện nay có 4 loại ngàm chuyển tên là LA-EA ( L ens A dapter for E -mount cameras to use  A - mount lenses) được phân biệt như sau:

  • LA-EA1 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A có motor trong (SSM và SAM); ống kính không có motor lấy nét (điều khiển qua ốc vít) của Minolta và một số ống kính của Sony chỉ có thể lấy nét tay chứ không AF được. Ngàm này không có kính mờ (translucent mirror) ở giữa.

  • LA-EA2 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A không có motor trong (điều khiển qua ốc vít). Ngàm này có sử dụng kính mờ ở giữa ngàm nên làm giảm 30% lượng ánh sáng đi qua ống kính. Để điều khiển lấy nét, ngàm có hệ thống motor lấy nét nằm trong ngàm và hoạt động độc lập với camera nên tốc độ lấy nét, số điểm lấy nét không phụ thuộc máy ảnh. Ngàm sử dụng 15 điểm lấy nét theo pha (PDAF) trong đó có 3 điểm là cross-type .

  • LA-EA3 : giống LA-EA1 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame (ống kính crop sẽ không bao phủ được toàn bộ cảm biến).

  • LA-EA4 : giống LA-EA2 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame. LA-EA4 hoạt động được với tất cả ống kính ngàm A của Minolta, Sony, Tamron, Sigma, ngoại trừ các ống kính Minolta AF Xi.
By Vsion team 31 Oct, 2017
   Vào những năm 1850, nhiếp ảnh đã trở nên phổ biến và đỡ tốn kém hơn với nhiều người. Đây cũng là nguyên do dẫn tới một trào lưu trong thời kỳ Victoria (thời kỳ trị vì của Nữ hoàng Anh quốc Victoria từ 1837 tới 1901) gọi là trào lưu chụp ảnh cùng người mới chết ( post-mortem photography ) khi người chết được chụp ảnh trong cùng album với những người thân thích trong gia đình. Dưới đây là 2 phút video tài liệu về trào lưu này được thực hiện bởi kênh HISTORY .

   Được biết tới với cái tên memento mori (nghĩa là " hãy nhớ là bạn phải chết " - " remember you must die "), trào lưu này ngày càng trở nên thịnh hành và ngay cả Nữ hoàng Victoria cũng ngủ dưới tấm hình người chồng quá cố của mình.
By Vsion team 30 Oct, 2017
   Sigma là tập đoàn sản xuất thiết bị ngành ảnh lâu đời của Nhật được ra đời vào năm 1961 bởi Michihiro Yamaki và ông cũng là CEO của công ty cho tới khi qua đời vào năm 2012. Vẫn được biết đến như một công ty sản xuất ống kính cho các hệ máy ảnh của các hãng lớn và phục vụ hệ máy ảnh của chính công ty mình, các ống kính của Sigma có thể hoạt động trên các máy ảnh DSLR của Canon, Nikon, Pentax thông qua quá trình thiết kế bắt chước phương thức lấy nét tự động (AF) của các loại máy ảnh này. Các ống kính của Sigma có chất lượng thường được xếp sau các ống kính "chính hãng" và có mức giá dễ chịu hơn.

   Vào năm 2013, sau khi Michihiro Yamaki mất, Sigma cũng bắt đầu một cuộc cách mạng mới được đánh dấu với sự ra đời của dòng ống kính Global Vision với các ống kính được nâng cấp từ các ống kính hãng đã từng chế tạo theo tiêu chuẩn cao và nghiên cứu phát triển những ống kính mới chưa từng xuất hiện trên thị trường. Một điểm đặc biệt nữa của các ống kính Global Vision là Sigma lần đầu tiên nhận thay ngàm cho các ống kính này nếu người sử dụng có nhu cầu đổi hệ máy mà không muốn đổi ống kính. Ngoài ra, các ống kính Global Vision đều tương thích với Sigma USB Dock là một thiết bị kết nối trực tiếp với ống kính thông qua ngàm tương thích và điều khiển thông qua máy vi tính để cân chỉnh khả năng focus của ống kính, giúp người dùng có thể tự điều chỉnh ống kính khi độ chính xác chưa được như mong muốn.
By Vsion team 27 Oct, 2017
   Sau 2 năm rưỡi kể từ ngày Sony công bố A7R mark II (tháng 6 năm 2015), ngày hôm qua Sony đã chính thức công bố thế hệ thứ ba của chiếc máy ảnh full frame không gương lật cao cấp này. Trái với thứ tự ưu tiên công bố, thay vì công bố máy A7 dòng R (High Resolution - độ phân giải cao) sau A7 thì lần này Sony công bố A7R mark III  (hay A7RIII ) đầu tiên trong series mới. Động thái này có thể là lời đáp trả của Sony với sự kiện Nikon công bố máy ảnh full frame DSLR thế hệ mới D850 hồi tháng 4. Đây là một bất ngờ lớn với cộng đồng nhiếp ảnh vì những thông tin gần đây nhất có được đều hướng về A7 mark III. So với A7RII thì A7RIII có nhiều nâng cấp nhỏ thay vì cải tiến đột phá về công nghệ, thế nên chúng ta hãy nhìn vào chi tiết các tính năng và đặc điểm mới của chiếc máy này xem nó có phải một phiên bản tốt hơn hẳn thế hệ trước hay không.

   Bài viết này của Vsion chỉ tập trung phân tích các đặc tính được công bố của hãng cùng thông tin bổ sung từ các reviewer nên chúng ta vẫn cẩn xác nhận lại khi chiếc máy ảnh này đến tay người dùng. Cuối bài viết, chúng tôi cũng cung cấp bảng so sánh chi tiết A7RIII so với A7RII và Nikon D850 để bạn đọc có thể có cái nhìn đầy đủ về mối tương quan của chiếc máy ảnh này với hai lựa chọn gần với nó trên thị trường.
By Vsion team 18 Oct, 2017
   Chắc hẳn sẽ có lúc nào đó trong chuỗi ngày cầm máy ảnh, bạn sẽ thấy bí bách với những tấm ảnh mình thường chụp, với mức độ "xóa phông" của ống kính mình hay dùng, với những câu hỏi căn bản như ảnh của mình có lấy đúng nét hay không, bokeh có mịn màng không... Hoặc bạn sẽ thấy ống kính của mình rất giới hạn ở khả năng chụp gần, không tạo hiệu ứng 3D, khó tạo điểm nhấn đặc biệt... Nếu bạn gặp phải những chuyện này thì đó là chuyện hoàn toàn bình thường và rất dễ gặp khi chúng ta bị gò bò trong cách sử dụng các thiết bị các bạn đang có trong tay. Khi bắt đầu loạt bài viết Vượt qua giới hạn thiết bị , mình có suy nghĩ là muốn giới thiệu với các bạn những cách tiếp cận để tăng hiệu quả quang học của thiết bị và làm tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí quang học như đạt DOF mỏng hơn giới hạn, khử noise tốt hơn khả năng của máy, tuy nhiên một tấm ảnh đẹp không nhất thiết phải là một tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí chất lượng hình ảnh. Nếu như hai bài viết trước giúp các bạn phần nào cải thiện giới hạn trên của các thiết bị, trong bài viết thứ ba này mình muốn giới thiệu tới các bạn cách để vượt qua... giới hạn dưới của ống kính. Freelensing là tên của kỹ thuật nhiếp ảnh (hay lens whacking trong quay phim) giúp chúng ta gỡ bỏ những ràng buộc của ống kính và máy ảnh, làm tấm ảnh bộc lộ rõ những "điểm yếu về quang học" mà chúng ta thường tránh như hiện tượng lệch mặt phẳng nét, giảm độ nét hay bị light leak và flare khắp mọi nơi, nhưng đó mới là những thứ chúng ta cần khai thác để tạo ra những tấm ảnh có phong cách mới lạ và sáng tạo.

   Đầu tiên, mời các bạn xem video dưới đây do tác giả James Miller thực hiện hoàn toàn bằng phương pháp lens whacking để hiểu được hiệu ứng chúng ta sẽ đạt được bằng phương pháp này.
By Vsion team 13 Oct, 2017
   Ngày nay khá nhiều người mới tập sử dụng máy ảnh với ống kính AF có thể ngạc nhiên khi nhắc tới khái niệm lỗ khẩu hay lá khẩu, và khái niệm khẩu độ chỉ thể hiện bằng con số có thể điều chỉnh trên máy ảnh. Lý do là hiện nay máy ảnh đã được thiết kế để người dùng không phải điều chỉnh khẩu độ bằng tay thông qua cơ chế cơ học nữa (tuy nhiên vẫn có những loại ống kính cho phép điều khiển vòng khẩu độ mặc dù nó được điều khiển điện) và lá khẩu chỉ đóng rất nhanh khi chụp ảnh. Vì thế nên nếu các bạn không để ý, cũng dễ hiểu khi các bạn chưa từng nhìn thấy hình dạng cái lỗ khẩu nó ra làm sao.

   Vai trò của lỗ khẩu là một vị trí trong ống kính có thể điều khiển diện tích thông qua việc đóng, mở các lá khẩu và thay đổi lượng ánh sáng đi qua ống kính, từ đó giúp bạn điều chỉnh độ sâu trường ảnh, độ nét, mức độ sáng của hình. Trong thời kỳ ống kính chưa có hệ thống motor điều khiển lấy nét tự động thì các ống kính nhiếp ảnh đều có vòng khẩu độ nằm trước hoặc nằm sau vòng lấy nét để giúp bạn điều chỉnh giá trị f-stop. Do việc điều chỉnh khẩu độ hoàn toàn là cơ học nên một thao tác quan trọng khi dùng máy film để lấy nét là bạn mở vòng khẩu độ ra hết cỡ để lấy nhiều ánh sáng nhất có thể (nếu không viewfinder sẽ tối), sau đó lấy nét vào điểm mong muốn rồi mới hạ vòng khẩu độ này xuống giá trị f-stop bạn cần để chụp. Để phục vụ cho nhu cầu này, nhiều ống kính lấy nét tay (MF) có thêm một vòng khẩu độ nữa, có tác dụng giới hạn vòng khẩu độ thứ hai. Đây gọi là các ống kính pre-set (xác lập trước) mà khi sử dụng bạn cần chỉnh một vòng khẩu độ đến giá trị mong muốn, sau đó vặn vòng khẩu độ thứ hai di chuyển rất nhanh giữa vị trí mở khẩu độ lớn nhất và vị trí bạn đã xác lập trước mà không cần phải nhìn lại thân ống kính.
More Posts
Share by: