Lạm bàn về "Chất Leica"

  • By Vsion team
  • 27 Mar, 2017
   Đây là một bài viết rất thú vị từ Irakly Shanidze, một nhiếp ảnh ra sinh ra tại Georgia và hiện tại khá nổi tiếng với những sản phẩm cho các tạp chí ảnh nổi tiếng ở cả Nga và Mỹ. Mời các bạn cùng theo dõi và xem anh chia sẻ quan điểm về "chất Leica" danh tiếng mà chúng ta vẫn luôn tò mò và đam mê.

    Điều gì đã làm cho những bức ảnh được chụp từ Leica trở nên khác biệt?

   Vào thời kỳ khi nhiếp ảnh film vẫn còn phổ biến, Irakly thường dành nhiều thời gian với cô con gái của anh trong một trò chơi nhỏ: anh bày một loạt slide từ film 35mm trên bàn và hỏi cô bé hãy chọn ra một bức hình mà cô bé thích nhất. Và đa phần, cô bé chỉ chọn những bức hình được chụp từ Leica M, hoặc từ những ống kính Carl Zeiss. Chắc chắn có một điều gì đó đặc biệt với những ống kính này khiến cho một cô bé chỉ mới 9 tuổi chú ý và cảm nhận. Irakly cũng vậy, anh có thể nhìn ra được sự khác biệt giữa Zeiss và Leica, nhưng để chỉ chính xác đâu là bức hình được chụp từ ống kính nào và sự khác nhau giữa chúng là gì thì anh phải mất 10 năm mới nhận ra được điều đó. 10 năm làm nghề để Irakly có thể chỉ ra được sự khác biệt giữa Leica và tất cả các ống kính khác là cái gì.

   Irakly cho rằng để giải thích được hiện tượng này là một điều quan trọng, vì rất tình cờ, một số lượng lớn những tấm ảnh nổi tiếng nhất của thế kỷ 20 lại được chụp với Leica M. Tất cả những bức hình đó đều rất xuất sắc, mặc dù cơ chế hoạt động của những chiếc máy Rangefinder thì lại không thân thiện một tí nào. Đối với đa phần những chiếc máy khác, phổ biến là dòng máy ảnh SLR, bạn có thể mường tượng trước bức ảnh của mình qua ống ngắm quang, nhưng với Leica M thì không. Và còn một số yếu tố hữu dụng khác như lấy nét tự động, ống kính zoom hay chế độ đo sáng tự động chẳng hạn...

   Người ta hay nói đùa rằng Leica có ma thuật (magic) để tạo nên những bức ảnh để đời, nhưng chỉ nói bâng quơ như vậy thì sẽ không có ý nghĩa. Với Irakly, anh đã cố gắng đi tìm một lời giải thích hợp lý về mặt khoa học cho hiện tượng này và cho đến thời điểm hiện tại, Irakly nghĩ là anh đã có một lời giải thích tương đối phù hợp. Và câu trả lời chưa chắc đã làm thoả mãn đa số...

   Nếu một bức ảnh được chụp với Leica, nó sẽ không tự động có "Chất Leica". "Chất Leica" chỉ thể hiện trong 2 trường hợp: một là người chụp biết cách tận dụng những tính chất độc đáo của Leica, hai là....hoàn toàn là do "chó ngáp phải ruồi", hay gọi vui vẻ hơn là may mắn.

   Lý do để cho những bức ảnh chụp từ Leica trở nên khác biệt so với đa số phần còn lại là sự kết hợp của rất nhiều yếu tố. Nổi bật chính là hiệu ứng hay được gọi là "Leica Glow", sự thể hiện vùng chuyển mềm mại và màu sắc nổi bật. Một số yếu tố khác thì lại rất khó để chỉ ra, nhiều yếu tố còn thậm chí không liên quan gì đến những tính chất quang học của ống kính.

Leica M8, Summilux 1.4/35 ASPH, 1/60, ISO640

   Đầu tiên, cách mà Leica (và một số ống kính Carl Zeiss) tái tạo lại hình ảnh là "không thực tế". Tại sao các bức ảnh lại đẹp và gây ấn tượng như thế? Bởi vì nó không thật, và đẹp hơn trên thực tế. Hãy nghe Irakly giải thích. Bạn có nhớ lần đầu tiên bạn đeo kính Polarized phân cực không? Đầu tiên bạn nhìn lên trên bầu trời, trời rất sáng và có thể nhìn thấy rất ít các đám mây, rồi bạn đeo chiếc RayBans lên mắt, đột nhiên...trời thì xanh, mây thì rõ, đầy màu sắc, đủ hình dạng, như nhìn những hình ảnh 3D trên bầu trời, và tuyệt hơn nữa, bạn không cần phải nheo mắt lại mới nhìn thấy! Nhìn nó có như thật không? Chắc chắn là không! Nó có đáng tin không?

   Bạn nghĩ xem, nó thật, nó đáng tin bởi vì chúng ta muốn nó đẹp như thế! Con người thì luôn tìm kiếm cái đẹp, chúng ta muốn mọi sự mọi vật phải đẹp đẽ, vì như vậy thì chúng ta mới có cảm giác dễ chịu. Vậy "đẹp và dễ chịu" trong trường hợp này có ý nghĩa như thế nào? Nó giống như khi bạn đeo kính phân cực, bạn dễ dàng nhìn thấy cái đẹp mà không mất nhiều công sức. Một ví dụ khác là về kính lúp chả hạn, bạn sử dụng kính lúp hay đeo chúng vào, đột nhiên từng chi tiết được hiển thị đẹp đẽ. Một bức ảnh được chụp với Leica cũng vậy, nó là sự kết hợp của kính phân cực và kính lúp: tương phản cao, chi tiết tuyệt vời ở những điểm mà bạn thích, sự mềm mại ở những khu vực rìa không phải trung tâm của bức ảnh, và bạn không cần phải tốn nhiều công sức để cảm nhận toàn bộ những dải màu tuyệt vời trên toàn khung hình. Tất cả những điều này làm cho bức ảnh có cảm giác không gian 3 chiều, làm bạn có cảm giác bạn chỉ cần đưa tay cũng có thể chạm tới chủ thể vậy.

   Irakly cũng chia sẻ thêm, anh cảm giác sự khác biệt giữa Leica và Zeiss ở đây, là cả 2 tuy đều đem lại hiệu ứng không gian 3 chiều, nhưng Leica có chiều sâu hơn, còn Zeiss thì cho cảm giác như bức ảnh là cả một mặt phẳng và chủ thể là một hiệu ứng 3D đang nổi trên đó.

Contax N Digital, Carl Zeiss 1.4/85 T*

   Vậy, còn những yếu tố nào khác nữa tạo nên sự khác biệt này? Có lẽ ta nên bắt đầu với những yếu tố rõ ràng trước, "mơ hồ" sau.

   Bokeh của Leica

   "Bokeh" xuất phát từ một từ tiếng Nhật (boke ぼけ, danh từ của "bokeru" ぼける, nghĩa là "nhòe"), mô tả về vùng nằm ngoài khoảng nét, vùng bị nhòa mờ. Ống kính Leica tạo ra hiệu ứng bokeh rất dễ chịu với mắtmắt, những điểm sáng thì tạo nên những hình tròn hay tương đối tròn với màu sắc đồng đều khi chụp ở khẩu lớn nhất. Loại bokeh này được gọi là trung tính (neutral). Một số ống kính khác thì có bokeh và những điểm sáng tạo thành hình tròn và sáng nhất ở trung tâm, ra đến rìa thì tối dần. Loại bokeh này được gọi là "positive" và nhìn rất đẹp. Bokeh thì hoàn toàn là ý kiến chủ quan của mỗi cá nhân, nên việc tranh luận loại bokeh nào đẹp hơn thì thật vô nghĩa. Còn loại bokeh mà ở rìa lại sáng hơn ở trung tâm thì gọi là bokeh "negative". Hầu hết các ống kính zoom hay ống kính prime chất lượng thấp thì đều có kiểu bokeh này, và đa phần khi khảo sát, rất ít người thích hiệu ứng bokeh "negative".

Leica SL, Noctilux 1.0/50, f/16 1/125, ISO1600

   Khi khép khẩu, một yếu tố khác cần phải đưa vào cân nhắc: chính là "số lượng lá khẩu", có ảnh hưởng trực tiếp đến hình dạng bokeh. Ống kính Leica thường có ít nhất 9 lá khẩu, tạo nên hình tròn đẹp khi khép khẩu. Ống kính nào có số lá khẩu ít hơn thì hay tạo thành những hình dạng đa giác khác, nhưng không có nghĩa là bokeh từ những ống kính này sẽ xấu: ống kính cực kỳ nổi tiếng Hasselblad Carl Zeiss Planar 80mm f/2.8 CF chỉ có 5 lá khẩu, và bokeh từ ống này có thể nói là một trong những bokeh tuyệt vời nhất từng xuất hiện.

   Vùng out-net ở phía trước chủ thể thì thường không được đẹp mắt như vùng xuất hiện phía sau chủ thể, do ống kính thường chỉ được tối ưu vùng out-net cho một phía. Các ống kính thường được tối ưu cho vùng out-net ở phía sau chủ thể, do mặt phẳng hay thấu kính đầu tiên được chăm chút và quan trọng hơn các thấu kính ở phía sau. Ống kính Projection hay enlarger thì lại được chế tạo theo hướng ngược lại. Tuy nhiên cũng có vài trường hợp ngoại lệ, như Carl Zeiss Distagon 55mm f/3.5 cho máy Contax 645AF có vùng bokeh tuyệt đẹp cả ở phía trước và phía sau điểm lấy nét.

   Một điểm khác biệt nữa của các ống kính Leica và Zeiss, là chúng luôn giữ được các chi tiết và dải màu ở vùng bokeh, đặc biệt là vùng highlight. Các ống kính chất lượng thấp thì thường làm bệt và mất chi tiết các vùng highlight rất dễ dàng. Các ống kính từ Đức quả thật có một công thức đặc biệt để tạo nên Dynamic Range rất cao trong những sản phẩm của mình.

   Bí ẩn về micro-contrast

   Các ống kính Leica có độ tương phản rất cao. Điều này có nghĩa là: trong một bức ảnh với dải màu rộng, màu đen nhìn rất giống màu đen và màu trắng nhìn rất giống màu trắng. Tuy nhiên có nhiều hãng ống kính đã làm ra được những ống kính có độ tương phản cũng cao nhưng giá thành thì rẻ hơn nhiều. Điều làm cho Leica trở nên đặc biệt, chính là có micro-contrast rất cao, hay giải thích rõ hơn, là sự tách biệt giữa các chi tiết chỉ hơi tối hoặc hơi sáng trong những khu vực có sự tương đồng về màu sắc. Micro contrast cao chính là sự giải thích và là yếu tố tạo nên thứ mà chúng ta hay gọi là dải màu rộng, sâu và vùng chuyển mềm mại từ sáng sang tối, tạo nên những hiệu ứng 3 chiều rất thật và dễ chịu.

Leica SL, Noctilux 1.0/50, f/1. ISO3200

   Điều quan trọng ta cần hiểu, là micro-contrast không liên quan đến độ nét ở các chi tiết. Ống kính có micro-contrast cao thường không cần phải lấy nét hoàn toàn chính xác đế bức ảnh đạt độ nét "vừa mắt". Đó cũng là lý do tại sao các ống kính chụp chân dung thường không cần có độ nét tối đa để hiển thị rõ toàn bộ các chi tiết trên vùng da, mà chỉ cần tạo nên hiệu ứng 3 chiều cho toàn bộ khuôn mặt, với đôi mắt và bờ môi nhìn thật sống động mà thôi. Ví dụ như ống kính Summicron 90mm f/2 Pre-ASPH và Noctilux 50mm f/1 là 2 ống kính rất xuất sắc trong khoản này.

   Mức độ micro-contrast thì lại ngược với số lượng thấu kính và thành phần trong mỗi ống kính. Lý do chính là, mỗi thấu kính hay mỗi thành phần thì đều có 2 bề mặt, mỗi bề mặt lại tạo nên những nguồn phản xạ bên trong. Càng ít sự phản xạ thì độ tương phản càng cao, chỉ đơn giản như vậy thôi!

   Đó là lý do tại sao ống kính có hệ thấu kính bên trong phức tạp (ống zoom) thường có độ tương phản thấp. Ống kính Leica M thì lại có công thức khá đơn giản. Nếu so sánh với những ống kính prime SLR, ống kính của máy rangefinder thường ít hơn 2 thấu kính ở phía sau. Ống kính SLR thường bắt buộc phải có 2 thấu kính ở phía sau để phù hợp với cơ chế hoạt động gương lật, đáp ứng khoảng cách giữa ống kính và cảm biến của máy. Ống kính Leica M thì không bị hạn chế bởi yếu tố này, nên chúng thường nhỏ hơn, nhẹ hơn và chất lượng ảnh thì thường là tốt hơn rất nhiều.

   Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng, ống kính Leica và Carl Zeiss SLR, cả ống prime và ống zoom, đều có độ tương phản rất cao dù có công thức thấu kính phức tạp, điều này là do những lớp tráng phủ đặc biệt và độc quyền của mỗi hãng. Mặc dù tất cả các ống kính ngày nay đều có nhiều lớp tráng phủ, Zeiss và Leica vẫn cho thấy chất lượng vượt trội và giữ được bí mật tuyệt đối về công thức của mình.

Leica SL, Vario-Elmar-R 4/35-70 ROM

   Có lẽ cần phải đính chính lại rằng, tuyên bố "ống kính luôn có micro contrast cao" là không hoàn toàn chính xác. Ống kính Leica "có khả năng" tạo ra bức ảnh có micro contrast cao thì hợp lý hơn, khi loại bỏ được hết tất cả những phản xạ nội bộ có thể xuất hiện khi chụp ảnh. Ví dụ như:

  1. Luôn sử dụng Hood: bảo vệ cho thấu kính trước khỏi các tia nắng mặt trời ở mọi góc độ, tạo ra những phản xạ bên trong ống kính.
  2. Filter cũng không nên dùng bừa bãi. Filter lại tạo thêm 2 mặt phẳng để xuất hiện thêm những phản xạ nội bộ. Hạn chế sử dụng UV filter, trừ phi bạn thực sự cần "bảo vệ" ống kính, khi leo núi hay chụp ngoài biển....

   Tuy nhiên, kể cả khi bạn đáp ứng đủ các điều kiện trên, micro contrast cao cũng phải phụ thuộc vào các điều kiện ánh sáng cụ thể: ánh sáng chủ đạo phải mềm mại, tương phản cao và đúng góc.

   Khả năng tạo Micro-contrast cao của một ống kính sẽ được tối ưu nhất khi nguồn sáng mềm mại và giàu tính tương phản, đồng thời sự phản xạ nội bộ trong ống kính cũng được tối giản tuyệt đối. Micro-contrast không liên quan đến độ nét. Trong một nghĩa nào đó, ống kính có micro-contrast cao có thể tái tạo thị giác con người: chúng ta nhìn vào toàn bộ bức ảnh chứ không zoom và nhìn vào các chi tiết nhỏ. Chúng ta thấy một hình ảnh "giống thật" nhất khi có sự hoà hợp về màu sắc và chiều sâu. Leica không bao giờ dẫn đầu trong cuộc chiến về megapixels, đơn giản là nó không cần: ảnh chụp từ Leica luôn có chất, và luôn "giống thật" không phải vì nó đạt độ nét hoàn hảo cho từng chi tiết, mà vì nó tái tạo toàn bộ khung hình với dải màu sâu và gần với mắt người nhất.

   Leica Glow

   Một trong số những đặc điểm về quang học hay bị hiểu nhầm nhất của Leica chính là "Leica Glow". "Leica glow" giống như một đám mây mờ xung quanh chi tiết highlight, không phải là tính năng mà những kỹ sư của Leica cố tình sản xuất ra và tự hào về nó, đơn giản, nó là những quang sai và hiệu ứng quang học không thể tránh khỏi trong những ống kính khẩu lớn, và thường ở những ống kính góc rộng. Hiệu ứng Glow này mang lại cho ống kính Leica một đặc điểm riêng biệt, trong nhiều trường hợp thì rất hữu dụng. Điều làm cho Leica Glow khác với hiệu ứng Glow của những ống kính như Canon 50mm f/0.95 là ở chỗ, Leica và Zeiss vẫn đảm bảo có độ tương phản và micro-contrast tốt, kể cả khi có hiệu ứng đám mây mờ. Ống kính từ những nhà sản xuất khác, mặc dù cũng có hiệu ứng Glow, nhưng độ tương phản thì cực thấp, và đa phần làm cho những bức ảnh khó có thể sử dụng được (Canon, Jupiter, Helios...).

   Nhưng không phải tất cả ống kính Leica đều có hiệu ứng này. Các ống kính ASPH hiện tại đã khắc phục được tối đa tất cả các hiện tượng quang sai. Các ống kính Summilux Summicron cũ hơn (ngoại trừ 50mm f/2) đều có hiện tượng này. Kết hợp với micro-contrast tốt, hiệu ứng Glow lại cho ra những bức ảnh rất khác biệt, tạo nên chất riêng biệt của Leica so với phần còn lại.

   Hiệu ứng Glow thường xuất hiện ở khẩu lớn nhất, và biến mất hoàn toàn khi khép xuống f/4. Có một vài trường hợp ngoại lệ trong số những ống kính mới mà hiệu ứng này vẫn xuất hiện là ống kính Vario-Elmarit-SL 24-90mm f/2.8~4 và ống kính Vario-Elmar-T 18-56mm f/4.5~5.6. Những ống kính zoom của Leica-R cũng có hiện tượng này.

    Một số ống kính hiện nay nổi tiếng với hiệu ứng Glow có thể kể đến sau đây:

    Summilux 35mm f/1.4 Pre-ASPH : một ống kính nhỏ gọn với đặc tính vượt trội. Hầu như không bị méo, độ nét cực tốt và Dynamic range rất cao. Hiệu ứng Glow xuất hiện từ f/1.4 đến f/2, biến mất hoàn toàn khi khép xuống f/2.8, và độ tương phản cũng sẽ tăng vọt cùng lúc với việc khép khẩu. Nhiều lúc bạn sẽ có cảm giác như bạn đang chụp 2 ống kính hoàn toàn khác biệt ở giữa các khẩu.

Leica M8, Summilux 1.4/35 Pre-ASPH, f/1.4, 1/125, ISO640

   Hiệu ứng Glow trong bức ảnh trên thể hiện khá rõ: hiện rất rõ ở trên tay của mẫu còn ở trên vai thì rất ít. Hiệu ứng này làm cho da của mẫu trong mềm mại và mơ màng hơn. Ống kính này khá phù hợp với Leica M8, tạo nên góc nhìn cơ bản (50mm) do cảm biến crop 1.33x.

   Hiệu ứng Glow của Noctilux 50mm f/1 thì lại khác: nó ít bao phủ xung quanh chủ thể hơn mà tập trung nhiều hơn vào khu vực out-net. Với ánh sáng phù hợp, nó có thể làm cho vùng da của mẫu như đang toả sáng từ bên trong.

Leica M9, Noctilux 1/50, f/1, 1/1000, ISO320
    Summilux 75mm f/1.4 có một hiệu ứng đặc biệt: ngoài việc có hiệu ứng Glow vùng Highlight như những ống Leica khác ở khẩu lớn, nó còn tao nên ánh sáng mờ ảo ở các khu vực nét rìa trong những vùng có tương phản tốt. Hiệu ứng này xuất hiện rõ nhất ở các khẩu nhỏ như f/5.6 khi Glow không xuất hiện ở khu vực highlight.
Leica M9, Summilux 1.4/75, f/5.6

   Summicron 90mm f/2 Pre-ASPH có sự tinh tế và nhẹ nhàng nhất, hiệu ứng Glow chỉ xuất hiện tại f/2. Hiệu ứng này kết hợp với bokeh tuyệt vời và micro-contrast cao đã tạo nên một trong những ống kính có "chất Leica" rõ ràng nhất.

Leica M9, Summicron 2/90, f/2, 1/125, ISO160

   Thiết kế ống ngắm (Viewfinder)

   Một yếu tố không rõ ràng, nhưng lại khá quan trọng góp phần tạo nên "Chất Leica" chính là thiết kế ống ngắm của những chiếc máy Leica M. Không giống như máy SLR, ống ngắm của Leica M luôn luôn sáng rực, bất kể khẩu độ của ống kính là bao nhiêu. Điều này làm cho việc lấy nét trên Rangefinder cũng rất dễ chịu. Ngoài việc ống ngắm luôn luôn sáng, thiết kế rangefinder cũng có một số đặc điểm đặc biệt sau:

  1. Nó không thể hiện Độ sâu trường ảnh (DOF) và độ méo của góc nhìn trên ống kính. Điều này có thể không thuận tiện, nhưng đa phần những người đã quen với rangefinder lại cho rằng đó không phải là vấn đề. Theo quan điểm của họ, điều này giúp cho họ không bị mất tập trung bởi những hiệu ứng "tiêu cực" của ống kính mà chỉ tập trung vào "nội dung và bố cục" của bức ảnh. Thay vì tập trung vào việc DOF sẽ được tái hiện ra sao, ống kính sẽ cho ra hiệu ứng tiêu cự như thế nào, họ lại tập trung hơn vào nội dung và sự hoà hợp về hình ảnh.
  2. Ống ngắm của Leica M có góc nhìn không thay đổi. Với những ống kính dài hơn 28mm, frameline sẽ hiện ra nhỏ hơn trong ống ngắm. Điều này giúp người chụp có thể nhìn rõ sự vật hay con người trước khi họ bước vào khung hình, giúp cho việc bố cục và chuẩn bị sẽ dễ dàng hơn. Đặc điểm này rất hữu ích với việc chụp đường phố và candid, khi sự chuẩn bị và yếu tố may mắn đóng vai trò quan trọng.
  3. Trong hầu hết các máy rangefinder, độ phóng đại của ống ngắm là 0.75x-1x, và không thay đổi với bất kỳ ống kính nào. Nó giúp người chụp có thể mở cả 2 mắt và để ý tốt hơn đến môi trường xung quanh. Hầu hết những người chụp đường phố đều dần dần chuyển từ SLR sang rangefinder. Điều thú vị là, với cả ảnh chân dung và phong cảnh, việc chụp với rangefinder cũng đem lại những chất riêng biệt và ấn tượng.
  4. Do ống ngắm không liên hệ với cơ chế của màn trập, khi chụp ống ngắm sẽ không bị đen hay mờ đi. Nó giúp người chụp có thể nhìn khung cảnh khi họ bấm nút. Với người chụp SLR, họ sẽ bị mù trong khoảnh khắc bấm nút chụp và không kiểm soát hay dự đoán được hình ảnh trong khoảnh khắc đó là gì. Đó là lý do tại sao bức ảnh chụp với Leica M thường ít mang yếu tố "may mắn" hơn do người chụp đã kiểm soát hoàn toàn khoảnh khắc mà họ quyết định.

   Lấy nét bằng tay

   Điều này nghe sẽ vô lý với rất nhiều người, nhưng việc lấy nét bằng tay với rangefinder đôi khi lại nhanh hơn lấy nét tự động, và đặc biệt, đáng tin cậy hơn trong điều kiện thiếu sáng. Khi lấy nét bằng tay với ống kính SLR, sử dụng cơ chế lấy nét cắt, bạn sẽ mất rất nhiều thời gian quay đi quay lại để xác định xem chủ thể đã đúng nét chưa. Với ống kính khẩu lớn thì không vấn đề gì, nhưng với ống kính khẩu nhỏ thì ống ngắm sẽ rất thiếu sáng. Còn với rangefinder, ống ngắm luôn luôn sáng, bất kể khẩu độ là bao nhiêu đi nữa và bạn sẽ không phải đoán mò: nếu bạn nhìn thấy 2 hình ảnh, tức là out-net, nếu bạn chỉ thấy một, bạn lấy nét chắc chắn chuẩn.

   Tuy nhiên, không có "cơ chế lấy nét liên tục bằng tay" đối với Leica M. Đây là một hạn chế mà người chụp Leica M phải biết cách sử dụng để chup những chủ thể chuyển động. Thay vì chụp liên tục và hy vọng có một bức ảnh đúng nét, bạn phải nắm bắt được chuyển động của chủ thể, lấy nét trước vào khu vực bạn cần và bấm nút chụp khi chủ thể đi vào khu vực đó. Nghe thì có vẻ khó, nhưng một khi bạn đã làm chủ được kỹ thuật này, nó còn đáng tin cậy hơn là cơ chế "đuổi nét" (tracking) với lấy nét tự động.

   Kết luận

   Vậy, tóm lại tất cả những luận điểm trên, "Chất Leica" thực sự là có thật. Không có ma thuật kỳ diệu nào ở đây cả, nó là sự kết hợp của nhiều yếu tố vật lý và quang học, đến cảm nhận của con người để tạo nên một bức ảnh đặc biệt từ Leica. Những ảnh chụp từ Leica không chỉ khác biệt đến từ những ống kính của nó, mà cách chụp của nó cũng khác biệt với đa số phần còn lại. "Chất Leica" là sự tổng hợp của những màu sắc rực rỡ, sự chuyển vùng tinh tế kết hợp với những nội dung giàu cảm xúc, làm cho những bức ảnh có tác động lớn tới thị giác và cảm xúc của con người. Với các công nghệ hiện đại như ngày nay, việc tái tạo lại "Chất Leica" bằng công đoạn hậu kỳ là hoàn toàn có thể, nhưng để có ngay khi vừa chụp xong mà không mất thời gian với Photoshop, thời gian ngồi trên máy tính thực sự là một giá trị cần phải được trân trọng đúng mức.


Nguồn: các bạn có thể đọc bài viết gốc bằng link sau:  artphotoacademy

N.Đ.Phan (P.N.)
Bài viết được dịch bởi P.N.
Các bạn có thể liên hệ tác giả nếu muốn sử dụng lại bài viết
*** Để có thể comment bằng Disqus, đầu tiên các bạn cần đăng nhập bằng Facebook bằng cách click vào biểu tượng Facebook ở dưới
Bài viết mới

Vsion.vn

By Vsion team 01 Nov, 2017
   Với người sử dụng máy ảnh Sony không gương lật ngàm E thì kho ống kính ngàm A của Sony / Minolta là một nguồn ống kính rất phong phú với giá cả phải chăng và chất lượng tốt. Vì thế khi phát triển hệ thống máy ảnh ngàm E thì Sony cũng thiết kế các ngàm chuyển để người dùng có thể sử dụng được ống kính ngàm A trên máy ảnh ngàm E. Hiện nay có 4 loại ngàm chuyển tên là LA-EA ( L ens A dapter for E -mount cameras to use  A - mount lenses) được phân biệt như sau:

  • LA-EA1 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A có motor trong (SSM và SAM); ống kính không có motor lấy nét (điều khiển qua ốc vít) của Minolta và một số ống kính của Sony chỉ có thể lấy nét tay chứ không AF được. Ngàm này không có kính mờ (translucent mirror) ở giữa.

  • LA-EA2 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A không có motor trong (điều khiển qua ốc vít). Ngàm này có sử dụng kính mờ ở giữa ngàm nên làm giảm 30% lượng ánh sáng đi qua ống kính. Để điều khiển lấy nét, ngàm có hệ thống motor lấy nét nằm trong ngàm và hoạt động độc lập với camera nên tốc độ lấy nét, số điểm lấy nét không phụ thuộc máy ảnh. Ngàm sử dụng 15 điểm lấy nét theo pha (PDAF) trong đó có 3 điểm là cross-type .

  • LA-EA3 : giống LA-EA1 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame (ống kính crop sẽ không bao phủ được toàn bộ cảm biến).

  • LA-EA4 : giống LA-EA2 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame. LA-EA4 hoạt động được với tất cả ống kính ngàm A của Minolta, Sony, Tamron, Sigma, ngoại trừ các ống kính Minolta AF Xi.
By Vsion team 31 Oct, 2017
   Vào những năm 1850, nhiếp ảnh đã trở nên phổ biến và đỡ tốn kém hơn với nhiều người. Đây cũng là nguyên do dẫn tới một trào lưu trong thời kỳ Victoria (thời kỳ trị vì của Nữ hoàng Anh quốc Victoria từ 1837 tới 1901) gọi là trào lưu chụp ảnh cùng người mới chết ( post-mortem photography ) khi người chết được chụp ảnh trong cùng album với những người thân thích trong gia đình. Dưới đây là 2 phút video tài liệu về trào lưu này được thực hiện bởi kênh HISTORY .

   Được biết tới với cái tên memento mori (nghĩa là " hãy nhớ là bạn phải chết " - " remember you must die "), trào lưu này ngày càng trở nên thịnh hành và ngay cả Nữ hoàng Victoria cũng ngủ dưới tấm hình người chồng quá cố của mình.
By Vsion team 30 Oct, 2017
   Sigma là tập đoàn sản xuất thiết bị ngành ảnh lâu đời của Nhật được ra đời vào năm 1961 bởi Michihiro Yamaki và ông cũng là CEO của công ty cho tới khi qua đời vào năm 2012. Vẫn được biết đến như một công ty sản xuất ống kính cho các hệ máy ảnh của các hãng lớn và phục vụ hệ máy ảnh của chính công ty mình, các ống kính của Sigma có thể hoạt động trên các máy ảnh DSLR của Canon, Nikon, Pentax thông qua quá trình thiết kế bắt chước phương thức lấy nét tự động (AF) của các loại máy ảnh này. Các ống kính của Sigma có chất lượng thường được xếp sau các ống kính "chính hãng" và có mức giá dễ chịu hơn.

   Vào năm 2013, sau khi Michihiro Yamaki mất, Sigma cũng bắt đầu một cuộc cách mạng mới được đánh dấu với sự ra đời của dòng ống kính Global Vision với các ống kính được nâng cấp từ các ống kính hãng đã từng chế tạo theo tiêu chuẩn cao và nghiên cứu phát triển những ống kính mới chưa từng xuất hiện trên thị trường. Một điểm đặc biệt nữa của các ống kính Global Vision là Sigma lần đầu tiên nhận thay ngàm cho các ống kính này nếu người sử dụng có nhu cầu đổi hệ máy mà không muốn đổi ống kính. Ngoài ra, các ống kính Global Vision đều tương thích với Sigma USB Dock là một thiết bị kết nối trực tiếp với ống kính thông qua ngàm tương thích và điều khiển thông qua máy vi tính để cân chỉnh khả năng focus của ống kính, giúp người dùng có thể tự điều chỉnh ống kính khi độ chính xác chưa được như mong muốn.
By Vsion team 27 Oct, 2017
   Sau 2 năm rưỡi kể từ ngày Sony công bố A7R mark II (tháng 6 năm 2015), ngày hôm qua Sony đã chính thức công bố thế hệ thứ ba của chiếc máy ảnh full frame không gương lật cao cấp này. Trái với thứ tự ưu tiên công bố, thay vì công bố máy A7 dòng R (High Resolution - độ phân giải cao) sau A7 thì lần này Sony công bố A7R mark III  (hay A7RIII ) đầu tiên trong series mới. Động thái này có thể là lời đáp trả của Sony với sự kiện Nikon công bố máy ảnh full frame DSLR thế hệ mới D850 hồi tháng 4. Đây là một bất ngờ lớn với cộng đồng nhiếp ảnh vì những thông tin gần đây nhất có được đều hướng về A7 mark III. So với A7RII thì A7RIII có nhiều nâng cấp nhỏ thay vì cải tiến đột phá về công nghệ, thế nên chúng ta hãy nhìn vào chi tiết các tính năng và đặc điểm mới của chiếc máy này xem nó có phải một phiên bản tốt hơn hẳn thế hệ trước hay không.

   Bài viết này của Vsion chỉ tập trung phân tích các đặc tính được công bố của hãng cùng thông tin bổ sung từ các reviewer nên chúng ta vẫn cẩn xác nhận lại khi chiếc máy ảnh này đến tay người dùng. Cuối bài viết, chúng tôi cũng cung cấp bảng so sánh chi tiết A7RIII so với A7RII và Nikon D850 để bạn đọc có thể có cái nhìn đầy đủ về mối tương quan của chiếc máy ảnh này với hai lựa chọn gần với nó trên thị trường.
By Vsion team 18 Oct, 2017
   Chắc hẳn sẽ có lúc nào đó trong chuỗi ngày cầm máy ảnh, bạn sẽ thấy bí bách với những tấm ảnh mình thường chụp, với mức độ "xóa phông" của ống kính mình hay dùng, với những câu hỏi căn bản như ảnh của mình có lấy đúng nét hay không, bokeh có mịn màng không... Hoặc bạn sẽ thấy ống kính của mình rất giới hạn ở khả năng chụp gần, không tạo hiệu ứng 3D, khó tạo điểm nhấn đặc biệt... Nếu bạn gặp phải những chuyện này thì đó là chuyện hoàn toàn bình thường và rất dễ gặp khi chúng ta bị gò bò trong cách sử dụng các thiết bị các bạn đang có trong tay. Khi bắt đầu loạt bài viết Vượt qua giới hạn thiết bị , mình có suy nghĩ là muốn giới thiệu với các bạn những cách tiếp cận để tăng hiệu quả quang học của thiết bị và làm tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí quang học như đạt DOF mỏng hơn giới hạn, khử noise tốt hơn khả năng của máy, tuy nhiên một tấm ảnh đẹp không nhất thiết phải là một tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí chất lượng hình ảnh. Nếu như hai bài viết trước giúp các bạn phần nào cải thiện giới hạn trên của các thiết bị, trong bài viết thứ ba này mình muốn giới thiệu tới các bạn cách để vượt qua... giới hạn dưới của ống kính. Freelensing là tên của kỹ thuật nhiếp ảnh (hay lens whacking trong quay phim) giúp chúng ta gỡ bỏ những ràng buộc của ống kính và máy ảnh, làm tấm ảnh bộc lộ rõ những "điểm yếu về quang học" mà chúng ta thường tránh như hiện tượng lệch mặt phẳng nét, giảm độ nét hay bị light leak và flare khắp mọi nơi, nhưng đó mới là những thứ chúng ta cần khai thác để tạo ra những tấm ảnh có phong cách mới lạ và sáng tạo.

   Đầu tiên, mời các bạn xem video dưới đây do tác giả James Miller thực hiện hoàn toàn bằng phương pháp lens whacking để hiểu được hiệu ứng chúng ta sẽ đạt được bằng phương pháp này.
By Vsion team 13 Oct, 2017
   Ngày nay khá nhiều người mới tập sử dụng máy ảnh với ống kính AF có thể ngạc nhiên khi nhắc tới khái niệm lỗ khẩu hay lá khẩu, và khái niệm khẩu độ chỉ thể hiện bằng con số có thể điều chỉnh trên máy ảnh. Lý do là hiện nay máy ảnh đã được thiết kế để người dùng không phải điều chỉnh khẩu độ bằng tay thông qua cơ chế cơ học nữa (tuy nhiên vẫn có những loại ống kính cho phép điều khiển vòng khẩu độ mặc dù nó được điều khiển điện) và lá khẩu chỉ đóng rất nhanh khi chụp ảnh. Vì thế nên nếu các bạn không để ý, cũng dễ hiểu khi các bạn chưa từng nhìn thấy hình dạng cái lỗ khẩu nó ra làm sao.

   Vai trò của lỗ khẩu là một vị trí trong ống kính có thể điều khiển diện tích thông qua việc đóng, mở các lá khẩu và thay đổi lượng ánh sáng đi qua ống kính, từ đó giúp bạn điều chỉnh độ sâu trường ảnh, độ nét, mức độ sáng của hình. Trong thời kỳ ống kính chưa có hệ thống motor điều khiển lấy nét tự động thì các ống kính nhiếp ảnh đều có vòng khẩu độ nằm trước hoặc nằm sau vòng lấy nét để giúp bạn điều chỉnh giá trị f-stop. Do việc điều chỉnh khẩu độ hoàn toàn là cơ học nên một thao tác quan trọng khi dùng máy film để lấy nét là bạn mở vòng khẩu độ ra hết cỡ để lấy nhiều ánh sáng nhất có thể (nếu không viewfinder sẽ tối), sau đó lấy nét vào điểm mong muốn rồi mới hạ vòng khẩu độ này xuống giá trị f-stop bạn cần để chụp. Để phục vụ cho nhu cầu này, nhiều ống kính lấy nét tay (MF) có thêm một vòng khẩu độ nữa, có tác dụng giới hạn vòng khẩu độ thứ hai. Đây gọi là các ống kính pre-set (xác lập trước) mà khi sử dụng bạn cần chỉnh một vòng khẩu độ đến giá trị mong muốn, sau đó vặn vòng khẩu độ thứ hai di chuyển rất nhanh giữa vị trí mở khẩu độ lớn nhất và vị trí bạn đã xác lập trước mà không cần phải nhìn lại thân ống kính.
More Posts
Share by: