Fuji X-Pro 2 vs. Sony A7 II: So sánh khả năng khử noise

  • By Vsion team
  • 28 Mar, 2017
   Fuji X-Pro 2 là chiếc máy đầu tiên của Fujifilm có cảm biến CMOS Xtrans thế hệ III, với độ phân giải lên đến 24 Megapixel. Cảm biến mới được quảng bá và công bố là đã cải thiện khả năng khử noise khi chụp với ISO cao so với các thế hệ trước, mặc dù độ phân giải đã tăng lên 50% (24mp vs 16mp). Trong bài viết này, tác giả đã so sánh khả năng khử noise của Fuji với một chiếc máy fullframe nổi tiếng với cùng độ phân giải 24mp trên cảm biến, Sony A7 mark II.

Fuji X-Pro 2 và Sony A7 II

   BÀI TEST

   Trong bài test này, chúng ta sẽ cùng xem khả năng của X-Pro 2 đến đâu khi so sánh với một chiếc máy fullframe xuất sắc thực sự. Mặc dù khả năng của A7 II chưa thể so sánh với A7R II, nhưng so với những chiếc Canon hay Nikon có cùng độ phân giải thì A7II cũng làm rất tốt và có phần vượt trội về mặt khử noise.

Khung cảnh bài test – X-Pro 2 @ ISO 25,600

   Rất nhiều người đánh giá Fujifilm có một hệ thước đo ISO khác với những hãng sản xuất còn lại như Sony, Canon hay Nikon. Bạn thường hay nghe thấy thước đo ISO của Fuji thấp hơn 1 stop so với những hãng còn lại, một số thì cho rằng chỉ thấp hơn 1/2 stop thôi. Có nghĩa là, nếu như Fuji hiện ISO là 3200 trên máy, thì với cùng một thông số khẩu và tốc, để đạt độ sáng như của Fuji thì các máy khác phải set ISO là 6400. Đấy là ý kiến của khá nhiều người chơi được đưa lên và tranh luận trên mạng. Để kiểm chứng việc này, tác giả đã sử dụng cùng một ống kính trên cả 2 máy, là chiếc Canon FD 50mm f/1.4. Chụp tại f/2.8, ISO 200, 1/2 second. Sau đó tác giả đã so sánh file RAW của cả 2 máy trên Lightroom, và tăng độ sáng trên file Fuji lên cho đến khi giá trị của các phần trắng, xám và đen tương đồng với giá trị của file Sony. Với 2 chiếc máy này, sự chênh lệch đo được chính xác là 0.60 stop.

   Cảm biến của X-Pro 2, giống như rất nhiều chiếc máy hiện tại, được cho là cảm biến ISOless. Điều này có nghĩa là, nếu như một bức ảnh RAW bị chụp thiếu sáng, sau đó được tăng sáng lên trong các phần mềm hậu kỳ thì sẽ có kết quả hệt như được chụp tại các giá trị ISO cao hơn nếu như các thông số đo sáng là chính xác. Giải thích thêm một chút, nếu như bạn chụp ở ISO 200 và thiếu sáng, bạn xử lý trên Lightroom hay PTS bằng cách tăng sáng lên 2 stop thì bức ảnh sẽ giống như được chụp ở ISO 800 vậy. Để so sánh 2 chiếc máy này, tác giả chụp với cùng một thông số phơi sáng, bắt đầu với 1 giây, f/5, ISO 200, sau đó tăng thời gian màn trập lên 1 stop và tăng ISO lên 1 stop (1/2s, ISO 400, 1/4s, ISO 800, và cứ tiếp tục như vậy) cho đến gần hết dải ISO. Sau đó tất cả các file Fuji đều được tăng thêm 0.6 stop trên Lightroom để có cùng độ sáng với file Sony.

   Sony được chụp với ống kính Sony Zeiss FE 55mm f/1.8, X-Pro2 được chụp với Fuji 35mm f/2 WR. Khung hình được chỉnh lại đôi chút để cân bằng giữa 2 góc nhìn do tiêu cự của 2 ống kính là khác nhau.

   KẾT QUẢ

   Ảnh crop 100% được đưa ra từ cả 2 máy, ở ngay trung tâm bức ảnh (bức vẽ bảo tàng Guggenheim), và 2 cột màu để kiểm tra color noise, mid-tone và shadow. Mời bạn click vào bức ảnh để có thể xem được chi tiết hơn.

100% Crops – X-Pro 2 và A7 II @ ISO 200 cho đến 25,600

   Khi nhìn vào bức ảnh phía trên, chắc chắn ấn tượng đầu tiên của bạn sẽ là, hầu như khó nhận ra được sự khác biệt từ cả 2 máy. Kết quả cho ra rất giống nhau, tại những giá trị ISO thấp, số lượng chi tiết trong từng ảnh, Sony chỉ có một chút rất nhỏ lợi thế ở đây thôi. Sự khác biệt có lẽ nhìn rõ nhất bắt đầu từ ISO 3200, Sony có cấu trúc grain nhìn dễ chịu hơn và giữ được chi tiết tốt hơn. Cả 2 chiếc máy đều giữ được chi tiết tốt cho đến tận ISO 12,800, và Fuji bắt đầu bị mất chi tiết tại ISO 25,600.  Từ ISO 6400 trở xuống, kết quả thực sự rất sát sao… có lẽ sự chênh lệch chỉ nằm trong khoảng 1/3 stop hoặc ít hơn. Tại ISO 12,800 và 25,600, sự khác biệt mới rõ ràng, nhưng vẫn ít hơn 1 stop, cho thấy X-Pro 2 thực sự có hiệu năng rất tốt.

   Tuy nhiên, ảnh crop ở trên chưa thể hiện hết toàn bộ hiệu năng của 2 máy ở ISO cao. Mặc dù độ trung thực và bảo đảm màu sắc của cả 2 là rất tốt khi tăng ISO, màu sắc của X-Pro 2 vẫn cho thấy sự trung lập ổn định và không bị colorcast. Nếu nhìn vào vùng shadow và background ở phía sau, X-Pro 2 không có hiện tượng banding.

X-Pro 2 @ ISO 25,600

   Còn nếu bạn nhìn vào bức ảnh từ Sony tại ISO 25,600 bên dưới, khu vực background và shadow có hiện tượng banding tương đối rõ, và cả một chút colorcast màu tím nữa. Nếu như nhìn vào toàn cảnh 2 bức ảnh, mặc dù khu vực highlight Sony thể hiện tốt hơn với ít noise hơn, nhưng có lẽ nhiều người sẽ vẫn lựa chọn X-Pro 2 có bức ảnh đẹp hơn trong trường hợp này.

Sony A7 II @ ISO 25,600

   Kết quả ở trên cho thấy, cảm biến APS-C mới của Fuji thực sự đã cải thiện cực tốt.  Fuji đã nỗ lực rất hiệu quả!

   

    So sánh với Fuji X-T1

   Fuji đã quảng bá rằng, X-Pro 2 đã cải thiện khả năng khử noise rất nhiều nếu so sánh với các máy ở thế hệ trước. Vậy thực sự thì sự khác biệt có rõ ràng hay không?

   Tác giả chụp X-T1 tại cùng thời điểm, cùng thông số và cùng phương pháp tăng 0.6 stop giống như với X-Pro 2. Do X-T1 không lưu file RAW tại ISO 12,800 và 25,600, tác giả đã chụp thiếu sáng tại ISO 6400 rồi tăng sáng tương ứng 1 và 2 stop.  Để cân bằng về độ phân giải, file X Pro 2 cũng được resize để bằng cảm biến 16mp của X-T1. Kết quả được thể hiện dưới đây, từ ISO 3200 trở đi, ISO thấp hơn thì không có gì khác biệt.

Fuji X-Pro 2 vs. X-T1, 100% Crops

   Sự khác biệt là có, nhưng không nhiều, đặc biệt tại ISO 3200 và 6400, sự khác biệt là không đáng kể và cũng khó nhận ra. Độ phân giải của X-Pro 2 cho thấy chi tiết tốt hơn tại các giá trị ISO này, nhưng khả năng khử noise thì phải nói là khá tương đồng. Sự cải thiện chỉ được nhìn thấy rõ ở ISO 12,800 và 25,600, chi tiết tốt hơn và khử noise cũng dễ chịu hơn. Theo tác giả đánh giá, sự khác biệt chỉ khoảng 0.5 stop tại ISO 25,600 và khoảng 1/3 stop tại ISO 12,800.  Tin tốt là việc tăng độ phân giải của X-Pro 2 không ảnh hưởng đến khả năng khử noise, nhưng sự khác biệt không quá nhiều như Fuji đã công bố.


   Đây chỉ là một bài test nhỏ, không mang quá nhiều giá trị nhưng cũng cho thấy cảm biến của X-Pro 2 thực sự rất tốt. Ý kiến của bạn thì sao?


   Bài viết gốc: admiringlight
N.Đ.Phan (P.N.)
Bài viết được dịch bởi P.N.
Các bạn có thể liên hệ tác giả nếu muốn sử dụng lại bài viết
*** Để có thể comment bằng Disqus, đầu tiên các bạn cần đăng nhập bằng Facebook bằng cách click vào biểu tượng Facebook ở dưới
Bài viết mới

Vsion.vn

By Vsion team 01 Nov, 2017
   Với người sử dụng máy ảnh Sony không gương lật ngàm E thì kho ống kính ngàm A của Sony / Minolta là một nguồn ống kính rất phong phú với giá cả phải chăng và chất lượng tốt. Vì thế khi phát triển hệ thống máy ảnh ngàm E thì Sony cũng thiết kế các ngàm chuyển để người dùng có thể sử dụng được ống kính ngàm A trên máy ảnh ngàm E. Hiện nay có 4 loại ngàm chuyển tên là LA-EA ( L ens A dapter for E -mount cameras to use  A - mount lenses) được phân biệt như sau:

  • LA-EA1 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A có motor trong (SSM và SAM); ống kính không có motor lấy nét (điều khiển qua ốc vít) của Minolta và một số ống kính của Sony chỉ có thể lấy nét tay chứ không AF được. Ngàm này không có kính mờ (translucent mirror) ở giữa.

  • LA-EA2 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A không có motor trong (điều khiển qua ốc vít). Ngàm này có sử dụng kính mờ ở giữa ngàm nên làm giảm 30% lượng ánh sáng đi qua ống kính. Để điều khiển lấy nét, ngàm có hệ thống motor lấy nét nằm trong ngàm và hoạt động độc lập với camera nên tốc độ lấy nét, số điểm lấy nét không phụ thuộc máy ảnh. Ngàm sử dụng 15 điểm lấy nét theo pha (PDAF) trong đó có 3 điểm là cross-type .

  • LA-EA3 : giống LA-EA1 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame (ống kính crop sẽ không bao phủ được toàn bộ cảm biến).

  • LA-EA4 : giống LA-EA2 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame. LA-EA4 hoạt động được với tất cả ống kính ngàm A của Minolta, Sony, Tamron, Sigma, ngoại trừ các ống kính Minolta AF Xi.
By Vsion team 31 Oct, 2017
   Vào những năm 1850, nhiếp ảnh đã trở nên phổ biến và đỡ tốn kém hơn với nhiều người. Đây cũng là nguyên do dẫn tới một trào lưu trong thời kỳ Victoria (thời kỳ trị vì của Nữ hoàng Anh quốc Victoria từ 1837 tới 1901) gọi là trào lưu chụp ảnh cùng người mới chết ( post-mortem photography ) khi người chết được chụp ảnh trong cùng album với những người thân thích trong gia đình. Dưới đây là 2 phút video tài liệu về trào lưu này được thực hiện bởi kênh HISTORY .

   Được biết tới với cái tên memento mori (nghĩa là " hãy nhớ là bạn phải chết " - " remember you must die "), trào lưu này ngày càng trở nên thịnh hành và ngay cả Nữ hoàng Victoria cũng ngủ dưới tấm hình người chồng quá cố của mình.
By Vsion team 30 Oct, 2017
   Sigma là tập đoàn sản xuất thiết bị ngành ảnh lâu đời của Nhật được ra đời vào năm 1961 bởi Michihiro Yamaki và ông cũng là CEO của công ty cho tới khi qua đời vào năm 2012. Vẫn được biết đến như một công ty sản xuất ống kính cho các hệ máy ảnh của các hãng lớn và phục vụ hệ máy ảnh của chính công ty mình, các ống kính của Sigma có thể hoạt động trên các máy ảnh DSLR của Canon, Nikon, Pentax thông qua quá trình thiết kế bắt chước phương thức lấy nét tự động (AF) của các loại máy ảnh này. Các ống kính của Sigma có chất lượng thường được xếp sau các ống kính "chính hãng" và có mức giá dễ chịu hơn.

   Vào năm 2013, sau khi Michihiro Yamaki mất, Sigma cũng bắt đầu một cuộc cách mạng mới được đánh dấu với sự ra đời của dòng ống kính Global Vision với các ống kính được nâng cấp từ các ống kính hãng đã từng chế tạo theo tiêu chuẩn cao và nghiên cứu phát triển những ống kính mới chưa từng xuất hiện trên thị trường. Một điểm đặc biệt nữa của các ống kính Global Vision là Sigma lần đầu tiên nhận thay ngàm cho các ống kính này nếu người sử dụng có nhu cầu đổi hệ máy mà không muốn đổi ống kính. Ngoài ra, các ống kính Global Vision đều tương thích với Sigma USB Dock là một thiết bị kết nối trực tiếp với ống kính thông qua ngàm tương thích và điều khiển thông qua máy vi tính để cân chỉnh khả năng focus của ống kính, giúp người dùng có thể tự điều chỉnh ống kính khi độ chính xác chưa được như mong muốn.
By Vsion team 27 Oct, 2017
   Sau 2 năm rưỡi kể từ ngày Sony công bố A7R mark II (tháng 6 năm 2015), ngày hôm qua Sony đã chính thức công bố thế hệ thứ ba của chiếc máy ảnh full frame không gương lật cao cấp này. Trái với thứ tự ưu tiên công bố, thay vì công bố máy A7 dòng R (High Resolution - độ phân giải cao) sau A7 thì lần này Sony công bố A7R mark III  (hay A7RIII ) đầu tiên trong series mới. Động thái này có thể là lời đáp trả của Sony với sự kiện Nikon công bố máy ảnh full frame DSLR thế hệ mới D850 hồi tháng 4. Đây là một bất ngờ lớn với cộng đồng nhiếp ảnh vì những thông tin gần đây nhất có được đều hướng về A7 mark III. So với A7RII thì A7RIII có nhiều nâng cấp nhỏ thay vì cải tiến đột phá về công nghệ, thế nên chúng ta hãy nhìn vào chi tiết các tính năng và đặc điểm mới của chiếc máy này xem nó có phải một phiên bản tốt hơn hẳn thế hệ trước hay không.

   Bài viết này của Vsion chỉ tập trung phân tích các đặc tính được công bố của hãng cùng thông tin bổ sung từ các reviewer nên chúng ta vẫn cẩn xác nhận lại khi chiếc máy ảnh này đến tay người dùng. Cuối bài viết, chúng tôi cũng cung cấp bảng so sánh chi tiết A7RIII so với A7RII và Nikon D850 để bạn đọc có thể có cái nhìn đầy đủ về mối tương quan của chiếc máy ảnh này với hai lựa chọn gần với nó trên thị trường.
By Vsion team 18 Oct, 2017
   Chắc hẳn sẽ có lúc nào đó trong chuỗi ngày cầm máy ảnh, bạn sẽ thấy bí bách với những tấm ảnh mình thường chụp, với mức độ "xóa phông" của ống kính mình hay dùng, với những câu hỏi căn bản như ảnh của mình có lấy đúng nét hay không, bokeh có mịn màng không... Hoặc bạn sẽ thấy ống kính của mình rất giới hạn ở khả năng chụp gần, không tạo hiệu ứng 3D, khó tạo điểm nhấn đặc biệt... Nếu bạn gặp phải những chuyện này thì đó là chuyện hoàn toàn bình thường và rất dễ gặp khi chúng ta bị gò bò trong cách sử dụng các thiết bị các bạn đang có trong tay. Khi bắt đầu loạt bài viết Vượt qua giới hạn thiết bị , mình có suy nghĩ là muốn giới thiệu với các bạn những cách tiếp cận để tăng hiệu quả quang học của thiết bị và làm tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí quang học như đạt DOF mỏng hơn giới hạn, khử noise tốt hơn khả năng của máy, tuy nhiên một tấm ảnh đẹp không nhất thiết phải là một tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí chất lượng hình ảnh. Nếu như hai bài viết trước giúp các bạn phần nào cải thiện giới hạn trên của các thiết bị, trong bài viết thứ ba này mình muốn giới thiệu tới các bạn cách để vượt qua... giới hạn dưới của ống kính. Freelensing là tên của kỹ thuật nhiếp ảnh (hay lens whacking trong quay phim) giúp chúng ta gỡ bỏ những ràng buộc của ống kính và máy ảnh, làm tấm ảnh bộc lộ rõ những "điểm yếu về quang học" mà chúng ta thường tránh như hiện tượng lệch mặt phẳng nét, giảm độ nét hay bị light leak và flare khắp mọi nơi, nhưng đó mới là những thứ chúng ta cần khai thác để tạo ra những tấm ảnh có phong cách mới lạ và sáng tạo.

   Đầu tiên, mời các bạn xem video dưới đây do tác giả James Miller thực hiện hoàn toàn bằng phương pháp lens whacking để hiểu được hiệu ứng chúng ta sẽ đạt được bằng phương pháp này.
By Vsion team 13 Oct, 2017
   Ngày nay khá nhiều người mới tập sử dụng máy ảnh với ống kính AF có thể ngạc nhiên khi nhắc tới khái niệm lỗ khẩu hay lá khẩu, và khái niệm khẩu độ chỉ thể hiện bằng con số có thể điều chỉnh trên máy ảnh. Lý do là hiện nay máy ảnh đã được thiết kế để người dùng không phải điều chỉnh khẩu độ bằng tay thông qua cơ chế cơ học nữa (tuy nhiên vẫn có những loại ống kính cho phép điều khiển vòng khẩu độ mặc dù nó được điều khiển điện) và lá khẩu chỉ đóng rất nhanh khi chụp ảnh. Vì thế nên nếu các bạn không để ý, cũng dễ hiểu khi các bạn chưa từng nhìn thấy hình dạng cái lỗ khẩu nó ra làm sao.

   Vai trò của lỗ khẩu là một vị trí trong ống kính có thể điều khiển diện tích thông qua việc đóng, mở các lá khẩu và thay đổi lượng ánh sáng đi qua ống kính, từ đó giúp bạn điều chỉnh độ sâu trường ảnh, độ nét, mức độ sáng của hình. Trong thời kỳ ống kính chưa có hệ thống motor điều khiển lấy nét tự động thì các ống kính nhiếp ảnh đều có vòng khẩu độ nằm trước hoặc nằm sau vòng lấy nét để giúp bạn điều chỉnh giá trị f-stop. Do việc điều chỉnh khẩu độ hoàn toàn là cơ học nên một thao tác quan trọng khi dùng máy film để lấy nét là bạn mở vòng khẩu độ ra hết cỡ để lấy nhiều ánh sáng nhất có thể (nếu không viewfinder sẽ tối), sau đó lấy nét vào điểm mong muốn rồi mới hạ vòng khẩu độ này xuống giá trị f-stop bạn cần để chụp. Để phục vụ cho nhu cầu này, nhiều ống kính lấy nét tay (MF) có thêm một vòng khẩu độ nữa, có tác dụng giới hạn vòng khẩu độ thứ hai. Đây gọi là các ống kính pre-set (xác lập trước) mà khi sử dụng bạn cần chỉnh một vòng khẩu độ đến giá trị mong muốn, sau đó vặn vòng khẩu độ thứ hai di chuyển rất nhanh giữa vị trí mở khẩu độ lớn nhất và vị trí bạn đã xác lập trước mà không cần phải nhìn lại thân ống kính.
More Posts
Share by: