Hiệu ứng tiêu cự trong chụp chân dung

  • By Vsion team
  • 09 Feb, 2017
    Hiệu ứng tiêu cự là thuật ngữ hay được nhắc tới để phân biệt hiệu ứng hình ảnh khác nhau bạn sẽ nhận được khi thay đổi tiêu cự ống kính do góc nhìn và khoảng cách lấy nét thay đổi . Trong bài viết này Vsion sẽ giúp các bạn hiểu rõ hiện tượng để kiểm soát tốt hơn khung hình mình cần chụp cũng như lựa chọn tiêu cự phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầu chụp.
Góc nhìn bị thu hẹp khi tiêu cự ống kính tăng
   Trong phạm vi bài viết này mình sẽ nói tới những thay đổi về hậu cảnh, độ biến dạng chủ thể khi chụp chân dung và tiêu cự ống kính thay đổi để đảm bảo khung hình được giữ nguyên, nghĩa là tỷ lệ khoảng cách từ chủ thể tới các vùng biên của hình không đổi.

    Tiêu cự ống kính , được thể hiện bằng đơn vị mm, được xác định bằng khoảng cách từ khi các tia sáng song song chuyển hướng khi đi qua hệ thấu kính lấy nét về vô cực cho tới khi chúng hội tụ về một điểm. Với hệ thấu kính trong ống kính các bạn thường dùng thì khoảng cách này được tính từ mặt phẳng cảm biến tới một điểm nằm trong hoặc nằm ngoài thân ống kính do đặc điểm quang học phức tạp kết hợp nhiều thấu kính. Tiêu cự càng ngắn thì góc nhìn của hệ ống kính - máy ảnh càng rộng. Nói một cách dễ hiểu thì người chụp cùng một khung hình mà dùng ống kính tiêu cự ngắn thì phải đứng gần hơn người dùng ống kính tiêu cự dài hơn (nếu 2 máy có cùng kích thước sensor). Hình bên cạnh (nguồn: http://clarapersis.com/ ) thể hiện góc nhìn (Field of view) tương ứng với các tiêu cự từ 8 tới 200mm trên máy ảnh full frame.
 
    Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn dùng ống tiêu cự ngắn chụp gần và ống tiêu cự dài chụp xa (trên cùng một máy ảnh)để có được 2 khung hình giống nhau? Các bạn có thể hình dung qua sơ đồ mình làm ở dưới. Đây là hình minh họa sự thay đổi khoảng cách và góc nhìn của máy khi dùng các ống kính tiêu cự khác nhau để chụp chân dung, với 4 tiêu cự được xếp theo trình tự A < B < C < D. Để chụp cùng một khung hình nghĩa là bạn phải đảm bảo tỷ lệ chiều cao và chiều ngang của chủ thể được chụp so với toàn bộ khung hình nên vị trí máy ảnh sẽ phải càng xa dần tương ứng với tiêu cự A, B, C, D. Góc nhìn của từng ống kính được thể hiện bằng các đường thẳng màu và mình giả sử hậu cảnh trong trường hợp này là một bức tường sơn màu tương ứng với độ rộng khung hình mà mỗi ống kính có thể chụp được. Ống kính tiêu cự dài hơn sẽ có góc nhìn hẹp hơn và phải đứng xa hơn để chụp được cùng một khung hình.
    Khi tiêu cự càng dài bạn càng phải đứng xa và do góc nhìn hẹp lại, phần hậu cảnh bạn chụp được cũng trở nên hẹp lại , như ở hình D bạn sẽ chỉ nhìn thấy phần bức tường màu tím ở chính giữa hình. Do chụp bằng cùng một máy ảnh nên lượng thông tin ống kính thu được sẽ được thể hiện trên cùng một số lượng pixel. Hệ quả là ở hình A máy ảnh lấy được nhiều chi tiết hậu cảnh nhất, ở hình D máy ảnh lấy được ít nhất nhưng cả hai cùng được thể hiện trên cùng một diện tích hình nên ở hình A các chi tiết bị dồn lại còn ở hình D các chi tiết được kéo giãn ra. Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới mức độ "xóa phông" của ống kính: góc nhìn càng hẹp thì hậu cảnh càng bị kéo giãn hay phóng to lên và đơn giản, ít chi tiết hơn hay cảm giác "xóa phông" cũng tăng lên với tiêu cự ống kính dài. Ngoài ra do hậu cảnh được phóng to khi chụp bằng ống tiêu cự dài, bạn cũng có cảm giác các chi tiết ở xa được kéo tới gần hơn tới người xem ảnh và ngược lại với ống tiêu cự ngắn, chi tiết hậu cảnh bị đẩy ra xa.

    Một hệ quả quan trọng của hiệu ứng tiêu cự khi chụp chân dung là hiện tượng biến dạng các đặc điểm khuôn mặt . Do khuôn mặt không phải là một mặt phẳng mà cũng có dạng 3D với vị trí không gian của các chi tiết là khác nhau nên tùy thuộc tiêu cự, sự khác nhau về vị trí không gian của các chi tiết này cũng được thể hiện khác nhau. Hai phần quan trọng là vị trí mắt và mũi có khoảng cách về không gian là cố định, nhưng do khoảng cách lấy nét là khác nhau giữa các tiêu cự nên tỷ lệ ( mắt - mũi ) / khoảng cách tới ống kính sẽ càng nhỏ khi tiêu cự càng dài. Các chi tiết khác trên khuôn mặt cũng vậy, nếu bạn hình dung các chi tiết được phân bổ theo các lớp có khoảng cách khác nhau tới vị trí máy ảnh thì tiêu cự ống kính càng dài thì các lớp này sẽ trở nên gần nhau hơn trên bức ảnh, hay người ta còn gọi là hiệu ứng "nén" (compression) khi chụp chân dung với ống kính tiêu cự dài. Những hình minh họa dưới đây sẽ giúp các bạn hiểu hơn về hiện tượng này:
   Đây là ảnh động được tạo bởi ảnh chân dung chụp tại các tiêu cự từ 20 tới 200 mm của nhiếp ảnh gia Dan Vojtěch ( http://www.danvojtech.cz/ ) và lý do mình chọn để minh họa cho lý thuyết ở trên là phần hậu cảnh đã được tối giản để chúng ta có thể tập trung vào thay đổi trên khuôn mặt. Các bạn có thể thấy ở tiêu cự ngắn thì khuôn mặt bị biến dạng theo chiều hướng nhấn mạnh các chi tiết xa - gần so với ống kính, đặc biệt là phần sống mũi. Khi chụp tại tiêu cự dài, các đặc điểm này được kéo lại gần nhau hơn và người được chụp cũng có vẻ béo hơn với sống mũi thấp hơn. Hiện tượng này giống như một quả bóng cao su, nếu bạn dùng tay ấn từ hai bên thì quả bóng sẽ sang dạng thuôn dài còn nếu ấn xuống thì quả bóng sẽ bị dẹt xuống và giống như nó lớn hơn bình thường.
   Nếu so sánh ảnh chụp bằng các ống kính tiêu cự khác nhau xấp xỉ 2 lần (ví dụ như 24mm - 50mm - 105mm - 200mm) các bạn sẽ thấy độ biến dạng của mặt ở khoảng tiêu cự ngắn dễ nhận thấy hơn khoảng tiêu cự dài như 100-200mm vì chụp bằng ống tele thì tỷ lệ khoảng cách các chi tiết trên mặt tới ống kính là không khác nhau đáng kể nữa nên ảnh đều có độ nén hình rất gần nhau.

    Hiệu ứng này có áp dụng được khi bạn dùng cùng một ống kính nhưng thay đổi khoảng cách lấy nét không? Câu trả lời là CÓ. Khi bạn đưa ống kính lại gần thì khuôn mặt cũng bị biến dạng giống như khi bạn dùng ống kính góc rộng hơn. Hình so sánh bên dưới được thực hiện bởi Nasim Mansurov trên trang photographylife.com sẽ giúp các bạn hình dung được rõ hơn. Tác giả đã chụp mẫu bằng cùng một máy ảnh và ống kính 35mm nhưng ở các khoảng cách khác nhau, sau đó crop hình để ra cùng một khung hình (video các bạn có thể xem ở dưới). Ở hình bên phải, khi chụp gần mẫu, hiệu ứng biến dạng cũng giống như hiệu ứng góc rộng.
   Đây là một chi tiết quan trọng để mình nói tới phần tiếp theo: khi thay đổi kích thước sensor và bạn dùng tiêu cự quy đổi tương đương thì hiệu ứng tiêu cự có giống nhau không ? Câu trả lời tiếp tục là CÓ, có nghĩa là bạn dùng ống kính 200mm trên máy full frame (hệ số crop 1) và ống kính 100mm trên máy micro four third (hệ số crop 2) thì hiệu ứng tiêu cự đều giống nhau, hay độ biến dạng mặt hay tỷ lệ phóng đại hậu cảnh đều y như nhau. Mình cũng muốn nhắc lại một điểm là tiêu cự ghi trên ống kính là giá trị vật lý không thay đổi, tuy nhiên khi dùng ống kính trên các hệ máy có sensor khác kích thước thì số này được nhân với hệ số crop để tính ra tiêu cự quy đổi tương đương, nghĩa là góc nhìn sẽ giống tiêu cự này khi dùng trên máy full frame. Nói cách khác, ảnh chụp bằng ống kính 100mm trên máy micro four third sẽ bằng ảnh chụp bằng ống kính đó trên máy full frame mà cắt vào từ 4 cạnh để ra hình tương đương góc nhìn chỉ bằng một nửa giống ống kính 200mm trên máy full frame(do hệ số crop là 2).

   Như hình minh họa ở dưới, khi dùng 2 ống kính tiêu cự khác nhau 2 lần (B = 1/2 A) thì góc nhìn ống kính B cũng lớn gấp 2 lần ống kính A. Để chụp 2 hình giống nhau thì (ống A + full frame) phải đứng cùng vị trí với (ống B + micro four third). Ảnh chụp trên máy micro four third dùng ống B chính bằng ảnh crop từ ảnh chụp bằng (ống B + máy full frame) từ cùng khoảng cách. Nếu các bạn lo ngại rằng hiệu ứng tiêu cự của ống A sẽ khác ống B thì có thể nhớ rằng với ống kính tiêu cự ngắn hơn (B) thì bạn cũng phải lùi xa hơn để chụp ra cùng một khung hình nên hiệu ứng tiêu cự cũng thay đổi theo hướng giống như bạn kéo dài tiêu cự ra như ngay ở phần trên mình đề cập tới. Mặc dù các yếu tố về DOF, ISO sẽ không hoàn toàn giống nhau nhưng về mặt hiệu ứng tiêu cự các bạn có thể an tâm rằng tiêu cự quy đổi tương đương sẽ tạo cùng một hiệu ứng với cùng độ biến dạng mặt và khoảng hậu cảnh ống kính có thể lấy được.
   Chưa thuyết phục lắm? Các bạn có thể xem hình dưới do Tony Northrup thực hiện để thấy là hai hình chụp gần như là giống nhau hoàn toàn: hình bên phải được chụp ở tiêu cự 100mm trên máy micro four third (tiêu cự quy đổi tương đương 200mm) và hình bên phải được chụp ở tiêu cự 200mm trên máy full frame. Để đạt được hiệu ứng xóa phông và DOF cũng như độ noise, máy micro four third phải tăng khẩu lên gấp 2 và hạ ISO xuống bằng 1/4, tuy nhiên vấn đề này mình sẽ nói tới trong bài viết sau.
   Nếu bạn nghĩ là khác biệt hệ số crop 2 lần chưa thể hiện rõ thì có lẽ so ảnh chụp bằng 2 máy có hệ số crop khác nhau 7 lần chắc sẽ thuyết phục hơn. Bạn có thể tìm thấy hai hình so sánh này cũng trên trang photographylife.com với ảnh chụp bằng máy ảnh mặt sau của iphone 6 ờ hình trên (tiêu cự 4.15mm, f/2.2 và hệ số crop 7.1) và Nikon D600 ở hình dưới (tiêu cự 31mm, khẩu f/16, hệ số crop 1). Tiêu cự và khẩu độ quy đổi hai ống kính này xấp xỉ nhau và chụp từ cùng một khoảng cách, các bạn có thể thấy về góc nhìn cũng như độ biến dạng chủ thể, độ xa gần hậu cảnh của 2 tấm ảnh là y như nhau.  
    Vậy ý nghĩa của việc hiểu được hiệu ứng tiêu cự có tác dụng như thế nào khi chụp ảnh thực tế ? Các bạn sẽ thấy là để khuôn mặt được chụp gần giống nhất với ấn tượng của mọi người thường nhớ sẽ tương đương với khoảng tiêu cự ống kính 85-100mm khi chụp bán thân. Mặc dù tiêu cự 40-50mm được gọi là tiêu cự thông thường (normal) sẽ cho góc nhìn gần giống nhất với góc nhìn của mắt người, tuy nhiên khuôn mặt người thường được ghi nhớ ở khoảng cách trung bình trong khoảng 1-2m (là khoảng cách thông thường mọi người giao tiếp với nhau) nên tiêu cự tele ngắn tới trung bình sẽ giống nhất với ngoài đời. Khi chụp bằng ống kính tele thì người được chụp sẽ có vẻ béo hơn và chụp bằng ống wide thì sẽ thấy gầy hơn ngoài đời. Mặc dù bạn có thể chụp chân dung với mọi tiêu cự nhưng những lý do trên làm tiêu cự 105mm từng được coi là tiêu cự chuẩn cho chụp chân dung.
 
   Do hiệu ứng với ống kính tiêu cự dài và ngắn khác nhau, bạn có thể ứng dụng cho các trường hợp có nhu cầu khác nhau:

   - Dùng ống kính wide sẽ lấy được hậu cảnh rộng và nhấn mạnh các chi tiết trên khuôn mặt, phù hợp để thể hiện mối tương quan giữa chủ thể và hậu cảnh cũng như tăng điểm nhấn cho các đặc điểm đặc trưng trên khuôn mặt. Tiêu cự 24-28mm hay được dùng cho các nhu cầu như vậy. Ngoài ra, ống kính tiêu cự ngắn hơn sẽ được ưa chuộng hơn với những khuôn mặt có đặc điểm tỷ lệ không rõ ràng hoặc hơi béo.

   - Dùng ống kính tele bạn sẽ xóa phông được tốt hơn, nhất là chụp bán thân đến toàn thân, do góc nhìn hẹp. Ống kính tele có khoảng cách lấy nét xa nên sẽ phù hợp khi bạn cần mẫu có không gian thoải mái hay cần sự tương tác của các mẫu với nhau. Ống kính tele cũng phù hợp hơn để chụp chân dung người Châu Âu với sống mũi cao vì khả năng nén hình sẽ làm sống mũi đỡ bị nhấn mạnh và gây mất tập trung hơn. Người hơi gầy khi chụp bằng ống tele cũng sẽ có cảm giác béo hơn bình thường. Từ tiêu cự 100mm trở lên, độ biến dạng khuôn mặt là không nhiều nên chụp bằng các ống kính tele dài sẽ không có khác biệt đáng kể tới khuôn mặt, tuy nhiên khi lựa chọn các ống kính tiêu cự ngắn hơn 50mm, bạn nên lưu tâm để tránh những biến dạng không mong muốn.

   Để kết bài, các bạn có thể xem hình động ở dưới để thấy những thay đổi khi kết hợp cả hai yếu tố hậu cảnh và biến dạng mặt mà mình đã phân tích ở trên. Hy vọng bài viết có thể cung cấp cho các bạn những kiến thức cần thiết để lựa chọn ống kính cho phù hợp với mục đích của mình.

Dr. Fox
Bài viết được biên tập bởi Dr. Fox
Nghiêm cấm sử dụng lại trên các trang web và ấn phẩm khác
*** Để có thể comment bằng Disqus, đầu tiên các bạn cần đăng nhập bằng Facebook bằng cách click vào biểu tượng Facebook ở dưới
Bài viết mới

Vsion.vn

By Vsion team 01 Nov, 2017
   Với người sử dụng máy ảnh Sony không gương lật ngàm E thì kho ống kính ngàm A của Sony / Minolta là một nguồn ống kính rất phong phú với giá cả phải chăng và chất lượng tốt. Vì thế khi phát triển hệ thống máy ảnh ngàm E thì Sony cũng thiết kế các ngàm chuyển để người dùng có thể sử dụng được ống kính ngàm A trên máy ảnh ngàm E. Hiện nay có 4 loại ngàm chuyển tên là LA-EA ( L ens A dapter for E -mount cameras to use  A - mount lenses) được phân biệt như sau:

  • LA-EA1 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A có motor trong (SSM và SAM); ống kính không có motor lấy nét (điều khiển qua ốc vít) của Minolta và một số ống kính của Sony chỉ có thể lấy nét tay chứ không AF được. Ngàm này không có kính mờ (translucent mirror) ở giữa.

  • LA-EA2 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A không có motor trong (điều khiển qua ốc vít). Ngàm này có sử dụng kính mờ ở giữa ngàm nên làm giảm 30% lượng ánh sáng đi qua ống kính. Để điều khiển lấy nét, ngàm có hệ thống motor lấy nét nằm trong ngàm và hoạt động độc lập với camera nên tốc độ lấy nét, số điểm lấy nét không phụ thuộc máy ảnh. Ngàm sử dụng 15 điểm lấy nét theo pha (PDAF) trong đó có 3 điểm là cross-type .

  • LA-EA3 : giống LA-EA1 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame (ống kính crop sẽ không bao phủ được toàn bộ cảm biến).

  • LA-EA4 : giống LA-EA2 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame. LA-EA4 hoạt động được với tất cả ống kính ngàm A của Minolta, Sony, Tamron, Sigma, ngoại trừ các ống kính Minolta AF Xi.
By Vsion team 31 Oct, 2017
   Vào những năm 1850, nhiếp ảnh đã trở nên phổ biến và đỡ tốn kém hơn với nhiều người. Đây cũng là nguyên do dẫn tới một trào lưu trong thời kỳ Victoria (thời kỳ trị vì của Nữ hoàng Anh quốc Victoria từ 1837 tới 1901) gọi là trào lưu chụp ảnh cùng người mới chết ( post-mortem photography ) khi người chết được chụp ảnh trong cùng album với những người thân thích trong gia đình. Dưới đây là 2 phút video tài liệu về trào lưu này được thực hiện bởi kênh HISTORY .

   Được biết tới với cái tên memento mori (nghĩa là " hãy nhớ là bạn phải chết " - " remember you must die "), trào lưu này ngày càng trở nên thịnh hành và ngay cả Nữ hoàng Victoria cũng ngủ dưới tấm hình người chồng quá cố của mình.
By Vsion team 30 Oct, 2017
   Sigma là tập đoàn sản xuất thiết bị ngành ảnh lâu đời của Nhật được ra đời vào năm 1961 bởi Michihiro Yamaki và ông cũng là CEO của công ty cho tới khi qua đời vào năm 2012. Vẫn được biết đến như một công ty sản xuất ống kính cho các hệ máy ảnh của các hãng lớn và phục vụ hệ máy ảnh của chính công ty mình, các ống kính của Sigma có thể hoạt động trên các máy ảnh DSLR của Canon, Nikon, Pentax thông qua quá trình thiết kế bắt chước phương thức lấy nét tự động (AF) của các loại máy ảnh này. Các ống kính của Sigma có chất lượng thường được xếp sau các ống kính "chính hãng" và có mức giá dễ chịu hơn.

   Vào năm 2013, sau khi Michihiro Yamaki mất, Sigma cũng bắt đầu một cuộc cách mạng mới được đánh dấu với sự ra đời của dòng ống kính Global Vision với các ống kính được nâng cấp từ các ống kính hãng đã từng chế tạo theo tiêu chuẩn cao và nghiên cứu phát triển những ống kính mới chưa từng xuất hiện trên thị trường. Một điểm đặc biệt nữa của các ống kính Global Vision là Sigma lần đầu tiên nhận thay ngàm cho các ống kính này nếu người sử dụng có nhu cầu đổi hệ máy mà không muốn đổi ống kính. Ngoài ra, các ống kính Global Vision đều tương thích với Sigma USB Dock là một thiết bị kết nối trực tiếp với ống kính thông qua ngàm tương thích và điều khiển thông qua máy vi tính để cân chỉnh khả năng focus của ống kính, giúp người dùng có thể tự điều chỉnh ống kính khi độ chính xác chưa được như mong muốn.
By Vsion team 27 Oct, 2017
   Sau 2 năm rưỡi kể từ ngày Sony công bố A7R mark II (tháng 6 năm 2015), ngày hôm qua Sony đã chính thức công bố thế hệ thứ ba của chiếc máy ảnh full frame không gương lật cao cấp này. Trái với thứ tự ưu tiên công bố, thay vì công bố máy A7 dòng R (High Resolution - độ phân giải cao) sau A7 thì lần này Sony công bố A7R mark III  (hay A7RIII ) đầu tiên trong series mới. Động thái này có thể là lời đáp trả của Sony với sự kiện Nikon công bố máy ảnh full frame DSLR thế hệ mới D850 hồi tháng 4. Đây là một bất ngờ lớn với cộng đồng nhiếp ảnh vì những thông tin gần đây nhất có được đều hướng về A7 mark III. So với A7RII thì A7RIII có nhiều nâng cấp nhỏ thay vì cải tiến đột phá về công nghệ, thế nên chúng ta hãy nhìn vào chi tiết các tính năng và đặc điểm mới của chiếc máy này xem nó có phải một phiên bản tốt hơn hẳn thế hệ trước hay không.

   Bài viết này của Vsion chỉ tập trung phân tích các đặc tính được công bố của hãng cùng thông tin bổ sung từ các reviewer nên chúng ta vẫn cẩn xác nhận lại khi chiếc máy ảnh này đến tay người dùng. Cuối bài viết, chúng tôi cũng cung cấp bảng so sánh chi tiết A7RIII so với A7RII và Nikon D850 để bạn đọc có thể có cái nhìn đầy đủ về mối tương quan của chiếc máy ảnh này với hai lựa chọn gần với nó trên thị trường.
By Vsion team 18 Oct, 2017
   Chắc hẳn sẽ có lúc nào đó trong chuỗi ngày cầm máy ảnh, bạn sẽ thấy bí bách với những tấm ảnh mình thường chụp, với mức độ "xóa phông" của ống kính mình hay dùng, với những câu hỏi căn bản như ảnh của mình có lấy đúng nét hay không, bokeh có mịn màng không... Hoặc bạn sẽ thấy ống kính của mình rất giới hạn ở khả năng chụp gần, không tạo hiệu ứng 3D, khó tạo điểm nhấn đặc biệt... Nếu bạn gặp phải những chuyện này thì đó là chuyện hoàn toàn bình thường và rất dễ gặp khi chúng ta bị gò bò trong cách sử dụng các thiết bị các bạn đang có trong tay. Khi bắt đầu loạt bài viết Vượt qua giới hạn thiết bị , mình có suy nghĩ là muốn giới thiệu với các bạn những cách tiếp cận để tăng hiệu quả quang học của thiết bị và làm tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí quang học như đạt DOF mỏng hơn giới hạn, khử noise tốt hơn khả năng của máy, tuy nhiên một tấm ảnh đẹp không nhất thiết phải là một tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí chất lượng hình ảnh. Nếu như hai bài viết trước giúp các bạn phần nào cải thiện giới hạn trên của các thiết bị, trong bài viết thứ ba này mình muốn giới thiệu tới các bạn cách để vượt qua... giới hạn dưới của ống kính. Freelensing là tên của kỹ thuật nhiếp ảnh (hay lens whacking trong quay phim) giúp chúng ta gỡ bỏ những ràng buộc của ống kính và máy ảnh, làm tấm ảnh bộc lộ rõ những "điểm yếu về quang học" mà chúng ta thường tránh như hiện tượng lệch mặt phẳng nét, giảm độ nét hay bị light leak và flare khắp mọi nơi, nhưng đó mới là những thứ chúng ta cần khai thác để tạo ra những tấm ảnh có phong cách mới lạ và sáng tạo.

   Đầu tiên, mời các bạn xem video dưới đây do tác giả James Miller thực hiện hoàn toàn bằng phương pháp lens whacking để hiểu được hiệu ứng chúng ta sẽ đạt được bằng phương pháp này.
By Vsion team 13 Oct, 2017
   Ngày nay khá nhiều người mới tập sử dụng máy ảnh với ống kính AF có thể ngạc nhiên khi nhắc tới khái niệm lỗ khẩu hay lá khẩu, và khái niệm khẩu độ chỉ thể hiện bằng con số có thể điều chỉnh trên máy ảnh. Lý do là hiện nay máy ảnh đã được thiết kế để người dùng không phải điều chỉnh khẩu độ bằng tay thông qua cơ chế cơ học nữa (tuy nhiên vẫn có những loại ống kính cho phép điều khiển vòng khẩu độ mặc dù nó được điều khiển điện) và lá khẩu chỉ đóng rất nhanh khi chụp ảnh. Vì thế nên nếu các bạn không để ý, cũng dễ hiểu khi các bạn chưa từng nhìn thấy hình dạng cái lỗ khẩu nó ra làm sao.

   Vai trò của lỗ khẩu là một vị trí trong ống kính có thể điều khiển diện tích thông qua việc đóng, mở các lá khẩu và thay đổi lượng ánh sáng đi qua ống kính, từ đó giúp bạn điều chỉnh độ sâu trường ảnh, độ nét, mức độ sáng của hình. Trong thời kỳ ống kính chưa có hệ thống motor điều khiển lấy nét tự động thì các ống kính nhiếp ảnh đều có vòng khẩu độ nằm trước hoặc nằm sau vòng lấy nét để giúp bạn điều chỉnh giá trị f-stop. Do việc điều chỉnh khẩu độ hoàn toàn là cơ học nên một thao tác quan trọng khi dùng máy film để lấy nét là bạn mở vòng khẩu độ ra hết cỡ để lấy nhiều ánh sáng nhất có thể (nếu không viewfinder sẽ tối), sau đó lấy nét vào điểm mong muốn rồi mới hạ vòng khẩu độ này xuống giá trị f-stop bạn cần để chụp. Để phục vụ cho nhu cầu này, nhiều ống kính lấy nét tay (MF) có thêm một vòng khẩu độ nữa, có tác dụng giới hạn vòng khẩu độ thứ hai. Đây gọi là các ống kính pre-set (xác lập trước) mà khi sử dụng bạn cần chỉnh một vòng khẩu độ đến giá trị mong muốn, sau đó vặn vòng khẩu độ thứ hai di chuyển rất nhanh giữa vị trí mở khẩu độ lớn nhất và vị trí bạn đã xác lập trước mà không cần phải nhìn lại thân ống kính.
More Posts
Share by: