Số lá khẩu trong ống kính

  • By Vsion team
  • 13 Oct, 2017
Giảm số lá khẩu và thay đổi chất liệu sang thiết kế mỏng, nhẹ là xu hướng chung của thiết kế ống kính AF
   Ngày nay khá nhiều người mới tập sử dụng máy ảnh với ống kính AF có thể ngạc nhiên khi nhắc tới khái niệm lỗ khẩu hay lá khẩu, và khái niệm khẩu độ chỉ thể hiện bằng con số có thể điều chỉnh trên máy ảnh. Lý do là hiện nay máy ảnh đã được thiết kế để người dùng không phải điều chỉnh khẩu độ bằng tay thông qua cơ chế cơ học nữa (tuy nhiên vẫn có những loại ống kính cho phép điều khiển vòng khẩu độ mặc dù nó được điều khiển điện) và lá khẩu chỉ đóng rất nhanh khi chụp ảnh. Vì thế nên nếu các bạn không để ý, cũng dễ hiểu khi các bạn chưa từng nhìn thấy hình dạng cái lỗ khẩu nó ra làm sao.

   Vai trò của lỗ khẩu là một vị trí trong ống kính có thể điều khiển diện tích thông qua việc đóng, mở các lá khẩu và thay đổi lượng ánh sáng đi qua ống kính, từ đó giúp bạn điều chỉnh độ sâu trường ảnh, độ nét, mức độ sáng của hình. Trong thời kỳ ống kính chưa có hệ thống motor điều khiển lấy nét tự động thì các ống kính nhiếp ảnh đều có vòng khẩu độ nằm trước hoặc nằm sau vòng lấy nét để giúp bạn điều chỉnh giá trị f-stop. Do việc điều chỉnh khẩu độ hoàn toàn là cơ học nên một thao tác quan trọng khi dùng máy film để lấy nét là bạn mở vòng khẩu độ ra hết cỡ để lấy nhiều ánh sáng nhất có thể (nếu không viewfinder sẽ tối), sau đó lấy nét vào điểm mong muốn rồi mới hạ vòng khẩu độ này xuống giá trị f-stop bạn cần để chụp. Để phục vụ cho nhu cầu này, nhiều ống kính lấy nét tay (MF) có thêm một vòng khẩu độ nữa, có tác dụng giới hạn vòng khẩu độ thứ hai. Đây gọi là các ống kính pre-set (xác lập trước) mà khi sử dụng bạn cần chỉnh một vòng khẩu độ đến giá trị mong muốn, sau đó vặn vòng khẩu độ thứ hai di chuyển rất nhanh giữa vị trí mở khẩu độ lớn nhất và vị trí bạn đã xác lập trước mà không cần phải nhìn lại thân ống kính.
Một bộ lỗ khẩu với các lá khẩu được tháo rời
   Phần lớn các loại lỗ khẩu chỉ phân biệt nhau ở số lượng lá khẩu, hình dạng lỗ khẩu (dạng đa giác, dạng tròn hay tạo hình dạng đặc biệt). Như trong các bài viết trước của Vsion, các bạn đã biết rằng số lượng lá khẩu và hình dạng lỗ khẩu là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới đặc tính bokeh  và khả năng tạo tia của ống kính, ví dụ như lỗ khẩu nhiều lá khấu, dạng tròn thì sẽ tạo bokeh tròn ở mọi khẩu độ (được ưa thích trong chụp chân dung), trong khi lỗ khẩu ít lá khẩu, đa giác sẽ tạo tia sắc nét, ít cạnh hơn (được ưa thích trong chụp cảnh). Với sự phát triển của máy ảnh lấy nét tự động, cách chế tạo ống kính cũng thay đổi nhiều, trong đó phải kể đến số lượng lá khẩu được giảm xuống chỉ ở khoảng 5-9 lá khẩu và chất liệu làm lá khẩu được thay từ kim loại sang các loại vật liệu plastic cứng và nhẹ khác để giảm giá thành và giảm năng lượng cần thiết để điều khiển đóng, mở các lá khẩu.
Zenitar-ME1 với thiết kế 2 lá khẩu có thể tạo bokeh vuông từ f/2.8. Phiên bản đầu tiên của ống kính này có thiết kế 4 lá khẩu (hình dưới cùng bên phải)
   Ống kính hiện đang giữ kỷ lục về số lá khẩu ít nhấtZenitar-ME1 50mm f/1.7 với thiết kế chỉ có 2 lá khẩu và tạo dạng lỗ khẩu hình vuông khi khép khẩu độ xuống f/2.8 hoặc sâu hơn. Ống kính này có ngàm M42, vốn được sản xuất dành cho máy chụp film Zenit-18 và ngày nay các bạn có thể dễ dàng sử dụng với ngàm chuyển phù hợp.

   Còn vô địch có số lá khẩu nhiều nhất hiện giờ đang thuộc về ống kính large format Schneider Xenar 240mm f/3.5 với 30 lá khẩu ! Số lá khẩu này đảm bảo là bokeh sẽ tròn vo ở bất cứ khẩu độ nào. Trong list dưới đây các bạn sẽ thấy là phần lớn những ống kính có số lá khẩu từ 10 trở lên (còn từ 5 tới 9 lá khẩu thì rất phổ biến) chủ yếu là các ống kính tele, chân dung  hoặc ống cine dùng để quay phim. Với các ống góc rộng chuyên chụp cảnh thì số lá khẩu ít và thẳng được được ưu tiên hơn do tạo hiệu ứng tia khi chụp đẹp hơn.

   Dưới đây là danh sách tham khảo các ống kính có từ 10 lá khẩu trở lên. Phần lớn đây là những ống kính MF cổ, nhưng cũng có một nhóm các ống kính hiện đại cũng được chế tạo với nhiều lá khẩu như các ống kính cine chuyên dụng.
   Những ống kính có nhiều hơn 20 lá khẩu:

  • Schneider Xenar 240mm f/3.5 (ống kính large format 4 x 5) : 30 lá khẩu
  • Schneider Xenar 480mm f/4.5 (ống kính large format 4 x 5) : 24 lá khẩu
  • Noflexar   400mm f/5.6 : 24 lá khẩu
  • Meyer Telemegor 400mm f/5.5 (preset) : 24 lá khẩu 
  • Leica Telyt R 560mm f/6.8 : 24 lá khẩu
  • TAIR-11A   135mm f/2.8 : 20 lá khẩu
  • Komura Koki Tokyo 135mm f/2.8 : 20 lá khẩu
24 lá khẩu tạo lỗ khẩu rất tròn của Leica R Telyt 560mm f/6.8
Những ống kính có 16-19 lá khẩu:

  • Meyer-Optik Gorlitz Orestegor 300mm f/4 : 19 lá khẩu 
  • Vivitar 200mm f/3.5 (ngàm T, bản preset) : 18 lá khẩu
  • CZJ Biotar T* 58mm f/2 (manual) : 17 lá khẩu 
  • TAIR-3S   300mm f/4.5 : 16 lá khẩu 
  • Steinheil Munchen Culminar 135mm f/4.5 và 85mm f/2.8 : 16 lá khẩu 
  • Sankyo Koki Komura 105mm f/2.5 : 16 lá khẩu
Ống kính Biotar với 17 lá khẩu đang được hồi sinh trong một thiết kế mới
Những ống kính có 15 lá khẩu:

  • Ernst Leitz Wetzlar Summarit 50mm f/1.5
  • Isco-Gottingen Tele-Westanar 135mm f/3.5
  • Ernst Leitz Wetzlar Hektor 135mm f/4.5
  • Vivitar (ngàm M42) 135mm f/2.8
  • Vivitar (ngàm M42) 85mm f/1.8
  • Jupiter-9 85mm f/2
  • Meyer Trioplan V 100mm f/2.8
  • Meyer Orestor (Pentacon bản preset) 135mm f/2.8
  • Meyer Primotar 135mm f/3.5
  • Meyer Telemegor V 180mm f/5.5
  • Meyer Orestegor 200mm f/4
  • Meyer Primoplan V 75mm f/1.9
  • Pentacon Auto 200mm f/4 MC
   Những ống kính có 14  lá khẩu:

  • Meyer Primoplan V 58mm f/1.9 (manual, bản pre-set)
  • CZJ Flektogon T* 35mm f/2.8 (pre-set)
  • Tele-Anastigmat 135mm f/4.5
  • Hanimar 200mm f/4.5 (pre-set)
  • CZJ Tessar 50mm f/3.5 Zeiss Compact primes CP.2 CP.3 cine lens
  • Laowa 105mm f/2 Smooth Trans Focus (1 vòng 8 lá khẩu, 1 vòng 14 lá khẩu)
  • Laowa 15mm f/4 Macro  
  • DZOptics KERLEE 35mm f/1.2  
  • Isco-Gottingen Isconar 135mm f/4 Meyer Optik Oreston 100mm f/2.8 ( ngàm M42, không có ký hiệu V đỏ)
Các ống kính cine trong series Compact Primes CP.2 CP.3 của Zeiss đều có 14 lá khẩu
Những ống kính có 13 lá khẩu:

  • KMZ Helios 44 58mm f/2 (bản đời đầu màu bạc)  
  • ZOMZ Jupiter-3 Π 50mm f/1.5
  • Soligor 200mm f/3.5 (ngàm M42)
  • Canon Serenar 100mm f/2
  • SLR Magic cine lens: 25mm f/1.4, 50mm f/1.1, 35mm f/1.2, 75mm f/1.4
Những ống kính có 12 lá khẩu:

  • Meyer Telefogar V 90mm f/3.5  
  • Meyer Trioplan 50mm f/2.8  
  • Soligor 55mm f/1.8 (ngàm M42)
  • Jupiter 11A 135mm f/4 (ngàm M42)
  • Leica Summilux 50mm f/1.4  
  • CZJ Flektogon 35mm f/2.8 (phiên bản bạc đời đầu)
  • Carl Zeiss Jena Tessar 50mm f/2.8 (ngàm M42)
  • CZJ Biotar T* 58mm f/2 (bản preset đời đầu)
  • CZJ Biometar 80mm f/2.8 (bản preset)
  • Voigtlander Nokton 35mm f/1.2 ASPH
  • SLR Magic HyperPrime Cine 25mm T0.95, 50mm T0.95
  • SLR Magic Cine 35mm T1.4
  • 7artisans / Zonlai / Discover HD.MC 25mm f/1.8
  • 7artisans 7.5mm f/2.8 Fisheye
Những ống kính có 11 lá khẩu:

  • Leica 90mm f/2 Apo-Summicron-M ASPH  
  • Leica 90mm f/2.5 Summarit-M
  • LEICA APO Summicron-M 50mm f/2 ASPH
  • Leica Noctilux-M 50mm f/0.95 ASPH
  • Leica 35mm f/2 Summicron-M ASPH
  • Leica 75mm f/2.4 Summarit-M ASPH 
  • Canon rangefinder 35mm f/1.8, 50mm f/1.2 LTM
  • Canon CN-E L F Cine Lens:  14mm T3.1, 24mm T1.5, 35mm T1.5, 50mm T1.3, 85mm T1.3, 135mm T2.2
  • Canon  CN-E L S Cine lens: 30-300mm T2.95-3.7, 14.5-60mm T2.6
  • Canon CN-E L SP Cine lens: 14.5-60mm T2.6, 15.5-47mm T2.8, 30-105mm T2.8
  • Canon cine lens CINE-SERVO 17-120mm T2.95-3.9,  50-1000mm T5.0-8.9
  • Samyang XEEN Cine lens: 16mm T2.6, 20mm T1.9, 24mm T1.5, 35mm T1.5, 50mm T1.5, 85mm T1.5, 135mm T2.2
  • Sony Planar T* FE 50mm f/1.4 ZA  
  • Sony FE 85mm f/1.4 GM
  • Sony FE 100mm f/2.8 STF OSS Macro  GM
  • Sony FE 70-200mm f/2.8 OSS GM
  • Sony FE 16-35mm f/2.8 GM
  • SLR Magic HyperPrime CINE 10mm T2.1
  • Zhongyi Mitakon Speedmaster 85mm f/1.2, 25mm f/0.95, 135mm f/1.4
Các ống kính cao cấp ngàm E của Sony là một trường hợp hiếm hoi trong số các ống kính AF hiện đại sử dụng tới 11 lá khẩu
Những ống kính có 10 lá khẩu:

  • CZJ Tessar T* 40mm f/4.5 (manual)
  • Voigtländer 50mm f/1.1 
  • Leica Noctilux-M 50mm f/1
  • Zeiss Sonnar C ZM 50mm f/1.5
  • Helios 40, 40-2 85mm f/1.5  
  • CZJ Biotar T* 75mm f/1.5 (bản preset)  
  • Meyer Helioplan V 40mm f/4.5 (bản preset)
  • Meyer Primagon V 35mm f/4.5 (bản preset)
  • Asahi Auto Takumar 35mm f/2.3
  • Minolta/Sony 135mm f/2.8 Smooth Trans Focus (một vòng 9 lá khẩu, một vòng 10 lá khẩu)
  • SLR Magic 17mm T1.6
  • Voigtlander Ultron 21mm f/1.8
  • Voigtlander Super Wide Heliar 15mm f/4.5
  • Voigtlander Color-Skopar 21mm f/4
  • Voigtlander Color-Skopar P 25mm f/4
  • Voigtlander MC Nokton 35mm f/1.4, 40mm f/1.4, 50mm f/1.5
  • Voigtlander Ultron 28mm f/2
  • Voigtlander Ultron 35mm f/1.7
  • Voigtlander Heliar Classic 75mm f/1.8
  • Voigtlander APO Lanthar 90mm f/3.5
  • Voigtlander Heliar-Hyper Wide 10mm f/5.6 ASPH

Thiết kế 10 lá khẩu truyền thống của Voigtlander là một trong những lý do chính tia của các ống kính Voigtlander luôn có dạng sao 10 cánh đặc trưng
Dr. Fox
Bài viết do Dr. Fox thực hiện
Nghiêm cấm đăng lại trên các website hay ấn phẩm khác
*** Để có thể comment bằng Disqus, đầu tiên các bạn cần đăng nhập bằng Facebook bằng cách click vào biểu tượng Facebook ở dưới
Bài viết mới

Vsion.vn

By Vsion team 01 Nov, 2017
   Với người sử dụng máy ảnh Sony không gương lật ngàm E thì kho ống kính ngàm A của Sony / Minolta là một nguồn ống kính rất phong phú với giá cả phải chăng và chất lượng tốt. Vì thế khi phát triển hệ thống máy ảnh ngàm E thì Sony cũng thiết kế các ngàm chuyển để người dùng có thể sử dụng được ống kính ngàm A trên máy ảnh ngàm E. Hiện nay có 4 loại ngàm chuyển tên là LA-EA ( L ens A dapter for E -mount cameras to use  A - mount lenses) được phân biệt như sau:

  • LA-EA1 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A có motor trong (SSM và SAM); ống kính không có motor lấy nét (điều khiển qua ốc vít) của Minolta và một số ống kính của Sony chỉ có thể lấy nét tay chứ không AF được. Ngàm này không có kính mờ (translucent mirror) ở giữa.

  • LA-EA2 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A không có motor trong (điều khiển qua ốc vít). Ngàm này có sử dụng kính mờ ở giữa ngàm nên làm giảm 30% lượng ánh sáng đi qua ống kính. Để điều khiển lấy nét, ngàm có hệ thống motor lấy nét nằm trong ngàm và hoạt động độc lập với camera nên tốc độ lấy nét, số điểm lấy nét không phụ thuộc máy ảnh. Ngàm sử dụng 15 điểm lấy nét theo pha (PDAF) trong đó có 3 điểm là cross-type .

  • LA-EA3 : giống LA-EA1 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame (ống kính crop sẽ không bao phủ được toàn bộ cảm biến).

  • LA-EA4 : giống LA-EA2 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame. LA-EA4 hoạt động được với tất cả ống kính ngàm A của Minolta, Sony, Tamron, Sigma, ngoại trừ các ống kính Minolta AF Xi.
By Vsion team 31 Oct, 2017
   Vào những năm 1850, nhiếp ảnh đã trở nên phổ biến và đỡ tốn kém hơn với nhiều người. Đây cũng là nguyên do dẫn tới một trào lưu trong thời kỳ Victoria (thời kỳ trị vì của Nữ hoàng Anh quốc Victoria từ 1837 tới 1901) gọi là trào lưu chụp ảnh cùng người mới chết ( post-mortem photography ) khi người chết được chụp ảnh trong cùng album với những người thân thích trong gia đình. Dưới đây là 2 phút video tài liệu về trào lưu này được thực hiện bởi kênh HISTORY .

   Được biết tới với cái tên memento mori (nghĩa là " hãy nhớ là bạn phải chết " - " remember you must die "), trào lưu này ngày càng trở nên thịnh hành và ngay cả Nữ hoàng Victoria cũng ngủ dưới tấm hình người chồng quá cố của mình.
By Vsion team 30 Oct, 2017
   Sigma là tập đoàn sản xuất thiết bị ngành ảnh lâu đời của Nhật được ra đời vào năm 1961 bởi Michihiro Yamaki và ông cũng là CEO của công ty cho tới khi qua đời vào năm 2012. Vẫn được biết đến như một công ty sản xuất ống kính cho các hệ máy ảnh của các hãng lớn và phục vụ hệ máy ảnh của chính công ty mình, các ống kính của Sigma có thể hoạt động trên các máy ảnh DSLR của Canon, Nikon, Pentax thông qua quá trình thiết kế bắt chước phương thức lấy nét tự động (AF) của các loại máy ảnh này. Các ống kính của Sigma có chất lượng thường được xếp sau các ống kính "chính hãng" và có mức giá dễ chịu hơn.

   Vào năm 2013, sau khi Michihiro Yamaki mất, Sigma cũng bắt đầu một cuộc cách mạng mới được đánh dấu với sự ra đời của dòng ống kính Global Vision với các ống kính được nâng cấp từ các ống kính hãng đã từng chế tạo theo tiêu chuẩn cao và nghiên cứu phát triển những ống kính mới chưa từng xuất hiện trên thị trường. Một điểm đặc biệt nữa của các ống kính Global Vision là Sigma lần đầu tiên nhận thay ngàm cho các ống kính này nếu người sử dụng có nhu cầu đổi hệ máy mà không muốn đổi ống kính. Ngoài ra, các ống kính Global Vision đều tương thích với Sigma USB Dock là một thiết bị kết nối trực tiếp với ống kính thông qua ngàm tương thích và điều khiển thông qua máy vi tính để cân chỉnh khả năng focus của ống kính, giúp người dùng có thể tự điều chỉnh ống kính khi độ chính xác chưa được như mong muốn.
By Vsion team 27 Oct, 2017
   Sau 2 năm rưỡi kể từ ngày Sony công bố A7R mark II (tháng 6 năm 2015), ngày hôm qua Sony đã chính thức công bố thế hệ thứ ba của chiếc máy ảnh full frame không gương lật cao cấp này. Trái với thứ tự ưu tiên công bố, thay vì công bố máy A7 dòng R (High Resolution - độ phân giải cao) sau A7 thì lần này Sony công bố A7R mark III  (hay A7RIII ) đầu tiên trong series mới. Động thái này có thể là lời đáp trả của Sony với sự kiện Nikon công bố máy ảnh full frame DSLR thế hệ mới D850 hồi tháng 4. Đây là một bất ngờ lớn với cộng đồng nhiếp ảnh vì những thông tin gần đây nhất có được đều hướng về A7 mark III. So với A7RII thì A7RIII có nhiều nâng cấp nhỏ thay vì cải tiến đột phá về công nghệ, thế nên chúng ta hãy nhìn vào chi tiết các tính năng và đặc điểm mới của chiếc máy này xem nó có phải một phiên bản tốt hơn hẳn thế hệ trước hay không.

   Bài viết này của Vsion chỉ tập trung phân tích các đặc tính được công bố của hãng cùng thông tin bổ sung từ các reviewer nên chúng ta vẫn cẩn xác nhận lại khi chiếc máy ảnh này đến tay người dùng. Cuối bài viết, chúng tôi cũng cung cấp bảng so sánh chi tiết A7RIII so với A7RII và Nikon D850 để bạn đọc có thể có cái nhìn đầy đủ về mối tương quan của chiếc máy ảnh này với hai lựa chọn gần với nó trên thị trường.
By Vsion team 18 Oct, 2017
   Chắc hẳn sẽ có lúc nào đó trong chuỗi ngày cầm máy ảnh, bạn sẽ thấy bí bách với những tấm ảnh mình thường chụp, với mức độ "xóa phông" của ống kính mình hay dùng, với những câu hỏi căn bản như ảnh của mình có lấy đúng nét hay không, bokeh có mịn màng không... Hoặc bạn sẽ thấy ống kính của mình rất giới hạn ở khả năng chụp gần, không tạo hiệu ứng 3D, khó tạo điểm nhấn đặc biệt... Nếu bạn gặp phải những chuyện này thì đó là chuyện hoàn toàn bình thường và rất dễ gặp khi chúng ta bị gò bò trong cách sử dụng các thiết bị các bạn đang có trong tay. Khi bắt đầu loạt bài viết Vượt qua giới hạn thiết bị , mình có suy nghĩ là muốn giới thiệu với các bạn những cách tiếp cận để tăng hiệu quả quang học của thiết bị và làm tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí quang học như đạt DOF mỏng hơn giới hạn, khử noise tốt hơn khả năng của máy, tuy nhiên một tấm ảnh đẹp không nhất thiết phải là một tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí chất lượng hình ảnh. Nếu như hai bài viết trước giúp các bạn phần nào cải thiện giới hạn trên của các thiết bị, trong bài viết thứ ba này mình muốn giới thiệu tới các bạn cách để vượt qua... giới hạn dưới của ống kính. Freelensing là tên của kỹ thuật nhiếp ảnh (hay lens whacking trong quay phim) giúp chúng ta gỡ bỏ những ràng buộc của ống kính và máy ảnh, làm tấm ảnh bộc lộ rõ những "điểm yếu về quang học" mà chúng ta thường tránh như hiện tượng lệch mặt phẳng nét, giảm độ nét hay bị light leak và flare khắp mọi nơi, nhưng đó mới là những thứ chúng ta cần khai thác để tạo ra những tấm ảnh có phong cách mới lạ và sáng tạo.

   Đầu tiên, mời các bạn xem video dưới đây do tác giả James Miller thực hiện hoàn toàn bằng phương pháp lens whacking để hiểu được hiệu ứng chúng ta sẽ đạt được bằng phương pháp này.
By Vsion team 13 Oct, 2017
   Ngày nay khá nhiều người mới tập sử dụng máy ảnh với ống kính AF có thể ngạc nhiên khi nhắc tới khái niệm lỗ khẩu hay lá khẩu, và khái niệm khẩu độ chỉ thể hiện bằng con số có thể điều chỉnh trên máy ảnh. Lý do là hiện nay máy ảnh đã được thiết kế để người dùng không phải điều chỉnh khẩu độ bằng tay thông qua cơ chế cơ học nữa (tuy nhiên vẫn có những loại ống kính cho phép điều khiển vòng khẩu độ mặc dù nó được điều khiển điện) và lá khẩu chỉ đóng rất nhanh khi chụp ảnh. Vì thế nên nếu các bạn không để ý, cũng dễ hiểu khi các bạn chưa từng nhìn thấy hình dạng cái lỗ khẩu nó ra làm sao.

   Vai trò của lỗ khẩu là một vị trí trong ống kính có thể điều khiển diện tích thông qua việc đóng, mở các lá khẩu và thay đổi lượng ánh sáng đi qua ống kính, từ đó giúp bạn điều chỉnh độ sâu trường ảnh, độ nét, mức độ sáng của hình. Trong thời kỳ ống kính chưa có hệ thống motor điều khiển lấy nét tự động thì các ống kính nhiếp ảnh đều có vòng khẩu độ nằm trước hoặc nằm sau vòng lấy nét để giúp bạn điều chỉnh giá trị f-stop. Do việc điều chỉnh khẩu độ hoàn toàn là cơ học nên một thao tác quan trọng khi dùng máy film để lấy nét là bạn mở vòng khẩu độ ra hết cỡ để lấy nhiều ánh sáng nhất có thể (nếu không viewfinder sẽ tối), sau đó lấy nét vào điểm mong muốn rồi mới hạ vòng khẩu độ này xuống giá trị f-stop bạn cần để chụp. Để phục vụ cho nhu cầu này, nhiều ống kính lấy nét tay (MF) có thêm một vòng khẩu độ nữa, có tác dụng giới hạn vòng khẩu độ thứ hai. Đây gọi là các ống kính pre-set (xác lập trước) mà khi sử dụng bạn cần chỉnh một vòng khẩu độ đến giá trị mong muốn, sau đó vặn vòng khẩu độ thứ hai di chuyển rất nhanh giữa vị trí mở khẩu độ lớn nhất và vị trí bạn đã xác lập trước mà không cần phải nhìn lại thân ống kính.
More Posts
Share by: