Vsion review - Konica Hexanon AR 40mm f/1.8

  • By Vsion team
  • 03 Jan, 2017
   Để mở đầu cho chuỗi bài đánh giá ống kính chất lượng tốt giá rẻ, hôm nay Vsion sẽ xin giới thiệu đến các bạn ống kính Konica Hexanon AR 40mm f/1.8. Đây là ống kính pancake có giá chỉ dao động trong khoảng trên dưới 1 triệu đồng tùy hình thức và độ mới của ống kính.
   Thời điểm sản xuất và thông số kỹ thuật
   Ống kính Hexanon AR 40mm f/1.8 được sản xuất trong giai đoạn những năm 1976 - 1983 bởi công ty Konica. Đây là ống kit cho máy phim Autoreflex TC và FS-1 của Konica và ngừng sản xuất sau khi hãng ngừng chế tạo FS-1 vào năm 1983. Hexanon là tên các ống kính máy SLR của Konica và từng được đánh giá rất cao khi chất lượng gần như tất cả ống kính trong series này đều đạt mức độ cao và đồng đều. Trước dòng ống kính ngàm AR, Konica cũng sản xuất một dòng ống kính khác tên là F (mặc dù cùng tên nhưng khác với ngàm F của Nikon). Ngàm F và AR của Konica mặc dù có cùng khoảng cách buồng tối (Flange focal distance - FFD) nhưng hoàn toàn không sử dụng thay nhau được.

(Credit: Dan James - Flickr)

   Ống kính AR 40mm f/1.8 cũng giống nhiều ống kính Hexanon khác là series ống kính đầu tiên trên thế giới có chế độ AE (Auto exposure hay bù sáng tự động) do Konica đi đầu trong kỹ thuật này. AR 40mm f/1.8 cũng là ống kính Hexanon đầu tiên sử dụng nút khóa AE hình chữ nhật thay vì hình cạnh tròn như các ống kính trước của Konica.

   Kích thước pancake của ống kính này giúp bạn có thể bỏ ống kính gọn trong túi quần (chỉ dài 27 mm và nặng 140 g). Ngàm AR có thể khóa rất chắc chắn, đây là một trong những loại ngàm khóa vào thân máy chắc chắn nhất mình từng được dùng. Ống kính được thiết kế gọn nhẹ, với vòng cao su nhỏ ở phía sát filter và vòng khẩu ở phía sau phát ra tiếng click nghe khá đanh mỗi khi chuyển khẩu. Nếu bạn xoay vòng khẩu quá khẩu nhỏ nhất (f/22) thì ống kính sẽ khóa lại ở chế độ AE để máy có thể tự động chỉnh khẩu độ (chỉ hoạt động với máy phim Konica). Nếu muốn bỏ khóa AE thì bạn chỉ cần ấn vào nút khóa nhỏ ở cạnh ống kính và xoay ngược lại.

   Nhờ kích thước nhỏ gọn và thiết kế đẹp với chữ 40/1.8 khắc chìm sơn đỏ rất nổi bật, ống kính này khi gắn lên máy A7ii rất hợp để mang đi chụp loanh quanh và chụp street. Tuy nhiên vì ống kính nhỏ, vòng lấy nét chiều ngang hẹp nên đôi khi mình thấy hơi khó phân biệt vòng khẩu và vòng lấy nét nên có thể xoay nhầm.
   Ống kính tăng chiều dài khi lấy nét ở xa. Sau 7 m ống kính sẽ sang lấy nét ở vô cực và nhô ra khoảng 7 mm so với kích thước ban đầu. Khoảng cách lấy nét gần nhất của ống kính là 45 cm, ở mức trung bình so với các ống kính cùng dải tiêu cự, có thể dùng để chụp close up nhưng không thực sự gần để đạt mức phóng đại lớn. Nếu bạn dùng ống kính này với ngàm Techart Pro thì có thể giảm khoảng cách này xuống khoảng một nửa, có thể chụp gần chi tiết tốt. Thiết kế lá khẩu của ống kính này khá đặc biệt nên khi xoay về f/2.8, lỗ khẩu tạo hình phi tiêu 6 cạnh rất đều, khi hạ xuống f/4 thì gần như mất hẳn và từ f/5.6 lỗ khẩu luôn giữ dạng hình lục giác đều.
   Dưới đây là bảng tóm tắt các thông số kỹ thuật:
Konica Hexanon AR 40mm f/1.8
Hãng sản xuất Konica
Loại ống kính Ống kính máy film 35mm, lấy nét bằng tay
Ngàm ống kính Konica AR
Tiêu cự ống kính 40mm (tương đương 60mm full frame nếu sử dụng trên máy APS-C 1.5x)
Khẩu độ lớn nhất f/1.8
Khẩu độ nhỏ nhất f/22
Khoảng cách lấy nét gần nhất 45cm
Thiết kế quang học 6 thấu kính trong 5 nhóm
Số lá khẩu 6 lá khẩu
Thiết kế thấu kính 14 thấu kính / 10 nhóm
Khối lượng 140 g
Chiều dài 27 mm
Đường kính filter 55 mm
   Độ nét trung tâm, quang sai màu (chromatic aberration) và khả năng chống lóa (flare, ghost)
   Để thực hiện đánh giá cùng lúc độ nét trung tâm, quang sai màu và khả năng chống lóa, mình sử dụng máy A7ii, chụp cầm tay (có bật chống rung) và ngàm chuyển AR-NEX thông thường để dùng ống kính AR 40mm f/1.8. Mình không dùng filter hay bật các chức năng tăng độ nét, tương phản, tươi màu hay khử noise. Ảnh được xuất thẳng từ file RAW với mức độ sharpen (tăng nét) giảm xuống 0. Mình chụp ngược sáng xiên chéo ống kính để các đặc tính như quang sai màu và lóa, bóng sáng (ghost) có thể thể hiện rõ. Ảnh so sánh vùng trung tâm từ khẩu f/1.8 xuống f/22 được thể hiện qua 8 ảnh zoom lớn ở dưới.
   Độ nét tâm hình : độ nét vùng trung tâm hình ở mức trung bình khá, hơi soft, nhưng cải thiện rất nhanh khi hạ khẩu xuống f/2.8 và đạt mức rất nét ở f/8. Từ f/11, hiện tượng nhiễu xạ (diffraction) làm độ nét bắt đầu giảm cho tới f/22. Do chụp ngược sáng nên độ nét vẫn có thể tốt hơn khi chụp trong điều kiện ánh sáng bình thường.

  Quang sai màu hay sắc sai (chromatic abberation): mức độ quang sai màu của ống kính này rất thấp, chỉ xuất hiện màu xanh nhạt ở viền các chi tiết sáng màu ở mức nhẹ và mất hẳn từ sau f/4.

   Khả năng chống lóa và ghost : khi chụp ngược sáng, mức độ giữ độ nét chi tiết và độ tương phản của ống kính này ở mức độ trên trung bình. Tia flare (ghost) có dạng đặc trưng rất giống các ống có khẩu lớn và nói khách quan thì dạng ghost này đẹp để có thể thêm yếu tố nghệ thuật vào bức ảnh chân dung của bạn. Mức độ bị lóa nặng nhất là như ở hình dưới, khi ánh nắng mặt trời gần như vuông góc với mặt ống kính.
   Độ nét vùng biên và mức độ tối góc (vignette)
   Mình thực hiện chụp tương tự như trên nhưng lần này lấy nét vào khu vực góc hình cũng như không hướng về phía ánh nắng để mức độ tối góc có thể nhìn thấy rõ. Độ nét ở vùng biên khá kém ở f/1.8 nhưng giống như trung tâm hình, mức độ nét được cải thiện nhanh khi hạ khẩu và đạt mức cao nhất ở f/8. Từ f/11, chất lượng ảnh cũng có phần giảm do hiện tượng nhiễu xạ nhưng tới f/22 vẫn ở mức chấp nhận được. Mức độ tối góc ở f/1.8 khá rõ nhưng mất hẳn từ f/5.6 trở đi (như hình dưới).
   Độ méo hình (distortion) và độ cong trường nét (field curvature)
   Tiêu cự 40 mm có thể thay đổi linh hoạt giữa chụp chân dung, đường phố và chụp cảnh nên mức độ méo hình cũng là một yếu tố đáng quan tâm. Bằng cách chụp bức tường gạch theo hướng vuông góc với các đường ngang, dọc song song, chúng ta cũng có thể thấy ống kính này bị méo ở mức khá dạng méo thùng (barrel distortion) hay méo phình ở giữa hình. Ở dưới mình có lồng hình các đường song song để các bạn dễ nhận ra mức độ méo. Mức độ méo này có thể sửa dễ dàng trong Lightroom hoặc Photoshop.
    Độ cong trường nét (field curvature) : là hiện tượng xảy ra ở tất cả các ống kính, chỉ khác nhau ở mức độ. Do cấu tạo thấu kính dạng cầu nên mặt phẳng nét thông thưởng không phải dạng phẳng mà hơi cong, thậm chí rất cong như các ống kính Petzval (các bạn có thể đọc thêm trong bài viết về MTF Chart của mình). Quan sát ảnh chụp tại f/1.8 ở dưới đây các bạn có thể thấy là mặt lấy nét không phải là một mặt phẳng mà cong hướng về phía máy ảnh. Do hiện tượng này nên ở khẩu độ lớn, sẽ không bao giờ bạn lấy nét được trung tâm ảnh và vùng biên nếu các chi tiết này trên cùng một mặt phẳng. Hiện tượng này được bù lại khi bạn hạ khẩu độ xuống làm tăng DOF.
   Đặc trưng bokeh
   Ống kính AR 40mm f/1.8 có thể chụp ra bokeh mịn màng hoặc hơi gắt phụ thuộc vào điều kiện ánh sáng và khoảng cách từ điểm bạn chụp tới hậu cảnh. Như trong hình kiểm tra ở dưới, hậu cảnh ở cách điểm lấy nét trên 5 m, nguồn sáng ở xa hơn 10 m và không có ánh sáng chiếu trực diện vào ống kính nên bokeh nhìn khá mượt mà. Tuy nhiên nếu bạn chụp trong điều kiện ánh sáng phức tạp hơn và hậu cảnh, nguồn sáng ở gần hơn thì bokeh có thể hơi gắt với dạng bokeh có lên phần viền gần giống bokeh bong bóng. Bokeh ở gần vùng biên của ống kính này có đặc điểm là hơi xoáy ở sát góc và giống hiệu ứng zoom hướng tâm ở gần trung tâm. Các bạn có thể thấy rõ hơn trong các hình sample ở dưới.

   Như mình đã nhắc tới ở trên. ống kính này có 6 lá khẩu và từ f/2.8 tới f/4, các cạnh lá khẩu tạo thành hình phi tiêu. Khẩu f/1.8 bokeh ra dạng tròn, có thể hơi giống vảy cá vì phần nửa dưới có thể không sáng bằng nửa trên. Từ f/4 trở đi, bokeh tạo dạng lục giác đều.
   Đặc trưng tia khi phơi sáng
   Do thiết kế 6 lá khẩu, khi phơi sáng bằng ống kính này (chụp đêm hoặc chụp mặt trời qua kính ND) thì các nguồn sáng sẽ tạo ra tia 6 cạnh từ f/5.6 và các tia sẽ kéo dài, nét hơn khi bạn tiếp tục hạ khẩu xuống. Từ f/11 dạng tia không khác biệt đáng kể với f/16 hay f/22. Tia có độ dài đồng đều và sắc gọn, rất phù hợp để chụp phơi sáng.
   Ảnh thực tế
   Dưới đây là một số ảnh thực tế chụp tại các khẩu độ khác nhau do mình và P.N. cùng thực hiện. Phần lớn ảnh chụp tại khẩu f/1.8 và không xử lý hậu kỳ. Một số ảnh ở cuối có xử lý ánh sáng và màu như ghi chú. Các bạn có thể download ảnh chất lượng cao bằng link ở ngay dưới ảnh.

    Ảnh thực tế tại f/1.8 (chụp bằng A7ii) - ảnh xuất từ file RAW không xử lý hậu kỳ.
    Ảnh thực tế tại f/2.8 (chụp bằng A7ii) - ảnh xuất từ file RAW không xử lý hậu kỳ.
   Ảnh thực tế tại f/4 (chụp bằng A7ii) - ảnh xuất từ file RAW không xử lý hậu kỳ.
    Ảnh thực tế tại f/5.6 (chụp bằng A7ii) - ảnh xuất từ file RAW không xử lý hậu kỳ.  
   Ảnh thực tế tại f/8 (chụp bằng A7ii) - ảnh xuất từ file RAW không xử lý hậu kỳ.
    Ảnh thực tế tại f/11 (chụp bằng A7ii) - ảnh xuất từ file RAW không xử lý hậu kỳ (lưu ý hiện tượng ghost dạng 2 hình tam giác màu xanh tím do ánh đèn chiếu thẳng vào ống kính)

   Ảnh thực tế chụp tại f/1.8 (chụp bằng A7ii) - ảnh đã qua hậu kỳ màu và ánh sáng.
    Ảnh thực tế chụp tại f/5.6 (chụp bằng A7ii) - ảnh đã qua hậu kỳ màu và ánh sáng.
   Tóm tắt đánh giá
   Ống kính Konica Hexanon 40mm f/1.8 là một ống kính khá thú vị để bạn trải nghiệm và theo Vsion đánh giá, đây là một trong số những ống kính có giá thành thấp mà hiệu năng sử dụng cao so với đồng tiền bỏ ra. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng ống kính này cũng có những giới hạn nhất định như mình đã phân tích tích ở trên và nhóm mình thực hiện bài đánh giá này để mọi người có thể hiểu hơn thế mạnh và điểm yếu của ống kính. Lựa chọn khác cho các bạn đang dùng Sony là ống pancake EF 40mm f/2.8 STM của Canon, ống kính này có thể dùng AF nếu bạn đang dùng ngàm MC-11 hoặc các ngàm AF thường nếu bạn dùng máy từ A7ii trở về sau. Đây cũng là ống kính rất nhỏ gọn như AR 40mm f/1.8, tuy nhiên giá cao gấp đôi và bạn sẽ phải dùng khẩu nhỏ hơn là f/2.8.

   Hexanon AR 40mm f/1.8 phù hợp nhất với chụp đường phố, chân dung gần, chân dung trẻ em, chụp cảnh không yêu cầu góc thật rộng. Tốt nhất bạn nên tránh các nguồn sáng chiếu trực tiếp vào ống kính trừ khi đấy là chủ đích của bạn và khi chụp cần sắc nét, khoảng f/5.6 tới f/8 là khoảng đẹp nhất để có thể đạt độ nét cao từ tâm tới rìa. Bokeh ống kính này sẽ đẹp nhất khi bạn chụp gần đối tượng khoảng 1 m trở lại và hậu cảnh ở xa, cũng như nguồn sáng không phức tạp. Ở f/2.8 bạn có thể tạo bokeh phi tiêu khá thú vị. Khi chụp nhóm nhiều người nên hạ khẩu xuống f/5.6 và tốt nhất là mọi người đứng theo hình cung hơi cong theo trường nét của ống kính để lấy rõ mặt tất cả mọi người. Trên hết đó là ống kính này rất dễ mang theo người nên hy vọng mọi người sẽ chụp được nhiều ảnh đẹp. Hãy chia sẻ với bọn mình nếu bạn tìm được một ống kính ưng ý và chụp được những tấm ảnh đẹp nhé.
  • Chất lượng quang học: 75 / 100
  • Thiết kế và thuận tiện khi sử dụng: 90 / 100
  • Giá thành / hiệu năng sử dụng: 90 / 100
  • Khả năng chuyển ngàm cho máy mirrorless: 70 / 100 (ngàm chuyển AR không bán nhiều)
  • Độ hiếm: 60 / 100 (không phổ biến)
  • Điểm đánh giá chung: 70 / 100 (đáng có)
Dr. Fox
Bài đánh giá do Dr. Fox thực hiện
Nghiêm cấm đăng lại trên bất kỳ website khác
*** Để có thể comment bằng Disqus, đầu tiên các bạn cần đăng nhập bằng Facebook bằng cách click vào biểu tượng Facebook ở dưới
Bài viết mới

Vsion.vn

By Vsion team 01 Nov, 2017
   Với người sử dụng máy ảnh Sony không gương lật ngàm E thì kho ống kính ngàm A của Sony / Minolta là một nguồn ống kính rất phong phú với giá cả phải chăng và chất lượng tốt. Vì thế khi phát triển hệ thống máy ảnh ngàm E thì Sony cũng thiết kế các ngàm chuyển để người dùng có thể sử dụng được ống kính ngàm A trên máy ảnh ngàm E. Hiện nay có 4 loại ngàm chuyển tên là LA-EA ( L ens A dapter for E -mount cameras to use  A - mount lenses) được phân biệt như sau:

  • LA-EA1 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A có motor trong (SSM và SAM); ống kính không có motor lấy nét (điều khiển qua ốc vít) của Minolta và một số ống kính của Sony chỉ có thể lấy nét tay chứ không AF được. Ngàm này không có kính mờ (translucent mirror) ở giữa.

  • LA-EA2 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A không có motor trong (điều khiển qua ốc vít). Ngàm này có sử dụng kính mờ ở giữa ngàm nên làm giảm 30% lượng ánh sáng đi qua ống kính. Để điều khiển lấy nét, ngàm có hệ thống motor lấy nét nằm trong ngàm và hoạt động độc lập với camera nên tốc độ lấy nét, số điểm lấy nét không phụ thuộc máy ảnh. Ngàm sử dụng 15 điểm lấy nét theo pha (PDAF) trong đó có 3 điểm là cross-type .

  • LA-EA3 : giống LA-EA1 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame (ống kính crop sẽ không bao phủ được toàn bộ cảm biến).

  • LA-EA4 : giống LA-EA2 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame. LA-EA4 hoạt động được với tất cả ống kính ngàm A của Minolta, Sony, Tamron, Sigma, ngoại trừ các ống kính Minolta AF Xi.
By Vsion team 31 Oct, 2017
   Vào những năm 1850, nhiếp ảnh đã trở nên phổ biến và đỡ tốn kém hơn với nhiều người. Đây cũng là nguyên do dẫn tới một trào lưu trong thời kỳ Victoria (thời kỳ trị vì của Nữ hoàng Anh quốc Victoria từ 1837 tới 1901) gọi là trào lưu chụp ảnh cùng người mới chết ( post-mortem photography ) khi người chết được chụp ảnh trong cùng album với những người thân thích trong gia đình. Dưới đây là 2 phút video tài liệu về trào lưu này được thực hiện bởi kênh HISTORY .

   Được biết tới với cái tên memento mori (nghĩa là " hãy nhớ là bạn phải chết " - " remember you must die "), trào lưu này ngày càng trở nên thịnh hành và ngay cả Nữ hoàng Victoria cũng ngủ dưới tấm hình người chồng quá cố của mình.
By Vsion team 30 Oct, 2017
   Sigma là tập đoàn sản xuất thiết bị ngành ảnh lâu đời của Nhật được ra đời vào năm 1961 bởi Michihiro Yamaki và ông cũng là CEO của công ty cho tới khi qua đời vào năm 2012. Vẫn được biết đến như một công ty sản xuất ống kính cho các hệ máy ảnh của các hãng lớn và phục vụ hệ máy ảnh của chính công ty mình, các ống kính của Sigma có thể hoạt động trên các máy ảnh DSLR của Canon, Nikon, Pentax thông qua quá trình thiết kế bắt chước phương thức lấy nét tự động (AF) của các loại máy ảnh này. Các ống kính của Sigma có chất lượng thường được xếp sau các ống kính "chính hãng" và có mức giá dễ chịu hơn.

   Vào năm 2013, sau khi Michihiro Yamaki mất, Sigma cũng bắt đầu một cuộc cách mạng mới được đánh dấu với sự ra đời của dòng ống kính Global Vision với các ống kính được nâng cấp từ các ống kính hãng đã từng chế tạo theo tiêu chuẩn cao và nghiên cứu phát triển những ống kính mới chưa từng xuất hiện trên thị trường. Một điểm đặc biệt nữa của các ống kính Global Vision là Sigma lần đầu tiên nhận thay ngàm cho các ống kính này nếu người sử dụng có nhu cầu đổi hệ máy mà không muốn đổi ống kính. Ngoài ra, các ống kính Global Vision đều tương thích với Sigma USB Dock là một thiết bị kết nối trực tiếp với ống kính thông qua ngàm tương thích và điều khiển thông qua máy vi tính để cân chỉnh khả năng focus của ống kính, giúp người dùng có thể tự điều chỉnh ống kính khi độ chính xác chưa được như mong muốn.
By Vsion team 27 Oct, 2017
   Sau 2 năm rưỡi kể từ ngày Sony công bố A7R mark II (tháng 6 năm 2015), ngày hôm qua Sony đã chính thức công bố thế hệ thứ ba của chiếc máy ảnh full frame không gương lật cao cấp này. Trái với thứ tự ưu tiên công bố, thay vì công bố máy A7 dòng R (High Resolution - độ phân giải cao) sau A7 thì lần này Sony công bố A7R mark III  (hay A7RIII ) đầu tiên trong series mới. Động thái này có thể là lời đáp trả của Sony với sự kiện Nikon công bố máy ảnh full frame DSLR thế hệ mới D850 hồi tháng 4. Đây là một bất ngờ lớn với cộng đồng nhiếp ảnh vì những thông tin gần đây nhất có được đều hướng về A7 mark III. So với A7RII thì A7RIII có nhiều nâng cấp nhỏ thay vì cải tiến đột phá về công nghệ, thế nên chúng ta hãy nhìn vào chi tiết các tính năng và đặc điểm mới của chiếc máy này xem nó có phải một phiên bản tốt hơn hẳn thế hệ trước hay không.

   Bài viết này của Vsion chỉ tập trung phân tích các đặc tính được công bố của hãng cùng thông tin bổ sung từ các reviewer nên chúng ta vẫn cẩn xác nhận lại khi chiếc máy ảnh này đến tay người dùng. Cuối bài viết, chúng tôi cũng cung cấp bảng so sánh chi tiết A7RIII so với A7RII và Nikon D850 để bạn đọc có thể có cái nhìn đầy đủ về mối tương quan của chiếc máy ảnh này với hai lựa chọn gần với nó trên thị trường.
By Vsion team 18 Oct, 2017
   Chắc hẳn sẽ có lúc nào đó trong chuỗi ngày cầm máy ảnh, bạn sẽ thấy bí bách với những tấm ảnh mình thường chụp, với mức độ "xóa phông" của ống kính mình hay dùng, với những câu hỏi căn bản như ảnh của mình có lấy đúng nét hay không, bokeh có mịn màng không... Hoặc bạn sẽ thấy ống kính của mình rất giới hạn ở khả năng chụp gần, không tạo hiệu ứng 3D, khó tạo điểm nhấn đặc biệt... Nếu bạn gặp phải những chuyện này thì đó là chuyện hoàn toàn bình thường và rất dễ gặp khi chúng ta bị gò bò trong cách sử dụng các thiết bị các bạn đang có trong tay. Khi bắt đầu loạt bài viết Vượt qua giới hạn thiết bị , mình có suy nghĩ là muốn giới thiệu với các bạn những cách tiếp cận để tăng hiệu quả quang học của thiết bị và làm tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí quang học như đạt DOF mỏng hơn giới hạn, khử noise tốt hơn khả năng của máy, tuy nhiên một tấm ảnh đẹp không nhất thiết phải là một tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí chất lượng hình ảnh. Nếu như hai bài viết trước giúp các bạn phần nào cải thiện giới hạn trên của các thiết bị, trong bài viết thứ ba này mình muốn giới thiệu tới các bạn cách để vượt qua... giới hạn dưới của ống kính. Freelensing là tên của kỹ thuật nhiếp ảnh (hay lens whacking trong quay phim) giúp chúng ta gỡ bỏ những ràng buộc của ống kính và máy ảnh, làm tấm ảnh bộc lộ rõ những "điểm yếu về quang học" mà chúng ta thường tránh như hiện tượng lệch mặt phẳng nét, giảm độ nét hay bị light leak và flare khắp mọi nơi, nhưng đó mới là những thứ chúng ta cần khai thác để tạo ra những tấm ảnh có phong cách mới lạ và sáng tạo.

   Đầu tiên, mời các bạn xem video dưới đây do tác giả James Miller thực hiện hoàn toàn bằng phương pháp lens whacking để hiểu được hiệu ứng chúng ta sẽ đạt được bằng phương pháp này.
By Vsion team 13 Oct, 2017
   Ngày nay khá nhiều người mới tập sử dụng máy ảnh với ống kính AF có thể ngạc nhiên khi nhắc tới khái niệm lỗ khẩu hay lá khẩu, và khái niệm khẩu độ chỉ thể hiện bằng con số có thể điều chỉnh trên máy ảnh. Lý do là hiện nay máy ảnh đã được thiết kế để người dùng không phải điều chỉnh khẩu độ bằng tay thông qua cơ chế cơ học nữa (tuy nhiên vẫn có những loại ống kính cho phép điều khiển vòng khẩu độ mặc dù nó được điều khiển điện) và lá khẩu chỉ đóng rất nhanh khi chụp ảnh. Vì thế nên nếu các bạn không để ý, cũng dễ hiểu khi các bạn chưa từng nhìn thấy hình dạng cái lỗ khẩu nó ra làm sao.

   Vai trò của lỗ khẩu là một vị trí trong ống kính có thể điều khiển diện tích thông qua việc đóng, mở các lá khẩu và thay đổi lượng ánh sáng đi qua ống kính, từ đó giúp bạn điều chỉnh độ sâu trường ảnh, độ nét, mức độ sáng của hình. Trong thời kỳ ống kính chưa có hệ thống motor điều khiển lấy nét tự động thì các ống kính nhiếp ảnh đều có vòng khẩu độ nằm trước hoặc nằm sau vòng lấy nét để giúp bạn điều chỉnh giá trị f-stop. Do việc điều chỉnh khẩu độ hoàn toàn là cơ học nên một thao tác quan trọng khi dùng máy film để lấy nét là bạn mở vòng khẩu độ ra hết cỡ để lấy nhiều ánh sáng nhất có thể (nếu không viewfinder sẽ tối), sau đó lấy nét vào điểm mong muốn rồi mới hạ vòng khẩu độ này xuống giá trị f-stop bạn cần để chụp. Để phục vụ cho nhu cầu này, nhiều ống kính lấy nét tay (MF) có thêm một vòng khẩu độ nữa, có tác dụng giới hạn vòng khẩu độ thứ hai. Đây gọi là các ống kính pre-set (xác lập trước) mà khi sử dụng bạn cần chỉnh một vòng khẩu độ đến giá trị mong muốn, sau đó vặn vòng khẩu độ thứ hai di chuyển rất nhanh giữa vị trí mở khẩu độ lớn nhất và vị trí bạn đã xác lập trước mà không cần phải nhìn lại thân ống kính.
More Posts
Share by: