Dự đoán hiệu ứng ảnh chụp với chương trình giả lập DOF simulator

  • By Dr. Fox
  • 13 Dec, 2017
Bạn có thể hình dung tấm ảnh này được chụp từ khoảng cách bao nhiêu nếu biết tiêu cự ống kính và loại máy ảnh chứ?
   Với những người mới làm quen với nhiếp ảnh hay mới thay đổi thiết bị với kích cỡ cảm biến, tiêu cự thay đổi thì có những câu hỏi đã trở nên rất phổ biến như: Với tiêu cự này thì phải chụp bán thân / toàn thân từ cách bao xa? Ống kính 85mm f/1.2 với 135mm f/2 để chụp ra cùng khung hình thì khi dùng ống 135mm phải lùi thêm bao xa? Hai ống này có mức độ "xóa phông" khác nhau như thế nào?... Những câu hỏi này có thể giúp người dùng hình dung được hiệu ứng và khoảng không gian cho phép để sử dụng một bộ thiết bị nhất định, nhưng có phải ai cũng có đủ kinh nghiệm để trả lời những câu hỏi đó chính xác không?

   Để đáp ứng cho nhu cầu này,  Michael Bemowski  đã viết ra một phần mềm giả lập hiệu ứng ảnh tên là DOF simulator chạy trên nền tảng Web hoặc Android. Các bạn có thể vào địa chỉ:  https://dofsimulator.net/en/  (phiên bản trên Web) hoặc download phần mềm về thiết bị chạy Android qua link sau:  https://play.google.com/store/apps/details?id=pl.michalbemowski.dofsimulator&hl=en

   Trong bài viết này, Vsion sẽ hướng dẫn các bạn dùng phần mềm này để trả lời những câu hỏi như ở trên. Khi bạn vào trang Web của DOF simulator thì bạn sẽ thấy giao diện như ở dưới. Mình sẽ giải thích vai trò của các thông số theo các phần 1, 2, 3 như đánh dấu ở bên trái hình.
1. CONFIGURATION
   
   Trong phần này bạn phải điền các thông số cho tấm ảnh:
  • Interface : chọn Basic (giao diện đơn giản) hoặc Advance (thêm thông số)
  • Distance unit : chọn đơn vị đo khoảng cách là hệ mét (Metric) hoặc hệ feet (Imperial)
  • Appearance : Model  - chọn hình dạng cho mẫu. Trong phần này các bạn có thể chọn chiều cao và giới tính của mẫu theo một số lựa chọn có sẵn. Trong hình mẫu mình chọn nữ cao 1,7 m. Background : chọn 1 trong các hậu cảnh có sẵn. Orientation : chọn định dạng ảnh ngang (landscape) hoặc ảnh dọc / chân dung (portrait).
  • Camera : các bạn có thể chọn máy ảnh theo kích cỡ cảm biến ( Sensor size ) hoặc theo tên máy ( Camera model ) hoặc tỷ lệ video 16:9.
  • Lens: chọn các thông số ống kính: Tiêu cự  F= x mm (với x là tiêu cự), Khẩu độ  f/ y (với y là khẩu độ), nếu ở giao diện Advance các bạn sẽ có thêm lựa chọn Converter . Trong phần chọn lens có lựa chọn theo hãng nhưng theo mình không cần thiết vì chương trình giả lập không thể hiện được đặc tính của các ống kính các hãng khác nhau.
  • Distance : Khoảng cách: Model (focus)  khoảng cách từ máy tới mẫu tính bằng cm (nếu chọn Const. background distance khoảng cách từ mẫu tới hậu cảnh giữ nguyên),   Background  là khoảng cách từ máy tới hậu cảnh.
  • Framing  (khung hình): là lựa chọn khung hình bạn sẽ chụp, nếu chọn Lock field of view  (khóa góc nhìn) thì khi bạn thay đổi tiêu cự hay cỡ sensor, chương trình sẽ thiết lập các thông số để bạn chụp ra cùng một khung hình. Lựa chọn này rất hữu dụng để so sánh các điều kiện chụp khác nhau như mình trình bày ở phần cuối. Ở dưới có các lựa chọn về khung hình như chụp cận mặt ( Face ), chụp chân dung từ ngực ( Portrait ), chụp bán thân ( Medium shot ), hay chụp toàn thân ( Full shot )
2. SAVED SETTINGS : giúp bạn lưu lại các tùy chỉnh hay sử dụng, bằng nút Add bạn có thể thêm các tùy chỉnh mong muốn nếu cần sử dụng lại nhiều lần
3. DEPTH OF FIELD (Độ sâu trường ảnh DOF):  bạn sẽ biết được độ dày của DOF phía trước mẫu ( In front of subject ), phía sau mẫu ( Behind subject ) và khoảng cách chụp hyper distance (thuật ngữ này sẽ được nhắc tới trong một bài khác).
   Bây giờ mình sẽ thử dùng chương trình này để giải đáp một số câu hỏi rất thông dụng liên quan tới tiêu cự, khẩu độ, khoảng cách lấy nét, kích cỡ cảm biến và DOF, độ xóa phông. Tuy nhiên đầu tiên có một số kiến thức căn bản chúng ta cùng đều phải đồng ý trước khi so sánh các trường hợp phức tạp hơn một chút.

1. Cùng một máy ảnh, cùng ống kính và khẩu độ, càng chụp gần mẫu thì DOF càng mỏng.

2. Cùng một máy ảnh, cùng ống kính và khoảng cách lấy nét, khẩu độ càng lớn thì DOF càng mỏng.

3. Cùng một máy ảnh, để chụp ra cùng một khung hình với 2 ống tiêu cự khác nhau thì với ống kính dài hơn bạn phải lùi ra xa hơn.

4. Cùng một ống kính nhưng với 2 máy ảnh có cảm biến khác nhau (full frame và APS-C hay crop) thì để chụp ra cùng một khung hình, khi dùng máy crop bạn phải đứng lùi ra xa hơn.
CÂU HỎI 1:    Nếu dùng cùng một máy ảnh thì ống kính 85mm f/1.2 hay 135mm f/2 sẽ "xóa phông" tốt hơn?
   Đây là câu hỏi rất phổ biến với người dùng máy ảnh Canon do đặc trưng hai ống kính chân dung rất phổ biến với người dùng Canon là EF 85mm f/1.2 L và EF 135mm f/2. Sử dụng DOF simulator chúng ta có thể có được câu trả lời dễ dàng: ống kính 135mm f/2 để chụp ra cùng một khung hình như 85mm f/1.2 thì mức độ xóa phông sẽ kém hơn , tuy nhiên do góc nhìn hẹp nên phần hậu cảnh sẽ được phóng to lên và cảm giác "gần" mẫu hơn, cũng như mức độ chi tiết ít hơn nên nhiều khi có cảm giác "xóa phông" tốt hơn. Bên cạnh đó, tiêu cự dài như 135mm hay được dùng ở không gian mở có hậu cảnh ở xa nên nhiều người vẫn có ấn tượng là dùng ống kính 135mm f/2 thì "xóa phông" tốt hơn 85mm f/1.2.

   Để thiết lập thông số chụp, mình chọn mẫu cao 1,7 m, đứng chụp cách xa 4,33 m nếu dùng 85mm f/1.2, sau đó chọn giữ nguyên khung hình (Lock field of view) và khoảng cách từ mẫu tới hậu cảnh (Const. background distance). Sau khi khóa khung hình và khoảng cách từ mẫu tới hậu cảnh, mình thay đổi thông số ống kính sang 135mm f/2 thì sẽ thấy kết quả là khoảng cách chụp bây giờ là 7,15 m (khoảng cách từ mẫu tới hậu cảnh vẫn giữ nguyên là 4 m). Như vậy, để chụp ra cùng một khung hình, khoảng cách bạn phải lùi lại cũng bằng tỷ lệ tiêu cự : 85mm / 135mm = 4,5 / 7,15 =  0,63.

   Trong trường hợp này, giá trị DOF của ống 85mm f/1.2 là độ dày 9,4 mm phía trước và 9,8 mm phía sau mẫu, còn với 135mm f/2 là 15,6 mm phía trước và 16,3 mm phía sau mẫu.
   Nếu bạn sử dụng một ống kính 135mm f/1.2 (chưa có trên thị trường) thì để chụp ra cùng một khung hình ở cùng một khẩu độ, trong giá trị DOF bạn sẽ thấy là hai ống kính tạo DOF xấp xỉ bằng nhau (phía trước mẫu 9,4 mm, phía sau mẫu 9,7-9,8 mm). Đây cũng là một quy tắc nữa các bạn cần nhớ: để chụp ra cùng một khung hình, với cùng loại máy ảnh thì khẩu độ bằng nhau sẽ tạo DOF xấp xỉ bằng nhau, bất kể tiêu cự khác nhau như thế nào chăng nữa .

   Tuy nhiên trong trường hợp này, mặc dù DOF bằng nhau nhưng do ống 135mm có hiệu ứng tiêu cự phóng lớn hậu cảnh nên các bạn sẽ thấy chụp bằng 135mm f/1.2 xóa phông tốt hơn 85mm f/1.2 (hình dưới).
CÂU HỎI 2:    Nếu dùng cùng một ống kính thì máy full frame hay crop sẽ "xóa phông" tốt hơn?
   Đây là một câu hỏi rất căn bản nhưng rất nhiều bạn mới học chụp ảnh vẫn có sự nhầm lẫn. Câu trả lời là cùng một ống kính khi dùng với máy có cảm biến nhỏ, bạn sẽ bị DOF dày hơn hay mức xóa phông kém hơn do bạn phải lùi lại để lấy cùng một khung hình (hệ quả của điểm 1 và 4 chúng ta đã thống nhất ở trên). Tuy nhiên sai khác 1,5 - 1,6x giữa máy full frame và APS-C đôi khi không đủ lớn và chụp ở nhiều hoàn cảnh khác nhau dễ làm các bạn hiểu nhầm rằng việc nhân tiêu cự khi dùng với máy ảnh cảm biến nhỏ sẽ dẫn tới lợi thế DOF mỏng và xóa phông tốt hơn.
 
  Trong kết quả mô phỏng dưới đây, mình chọn ống kính 85mm f/1.4 sử dụng trên máy full frame và APS-C (hệ số crop 1,52x), mẫu cao 1,6 m, đứng cách mẫu 4,33 m (full frame). Nếu khóa khung hình và khoảng cách từ mẫu tới hậu cảnh và giữ nguyên tiêu cự (chọn Constant focal length ) thì khi chuyển kích cỡ sensor sang APS-C, chúng ta sẽ thấy thông số khoảng cách chụp tăng từ 4,33 m lên 6,58mm. Tỷ lệ khoảng cách tăng lên này cũng chính bằng hệ số crop (6,58/4,3 = 1,52). DOF khi chụp trên máy full frame là 10,1 mm trước mẫu và 10,6 mm sau mẫu, sau khi chuyển sang máy APS-C thì là 15,4 mm trước mẫu và 16,2mm sau mẫu. Như vậy rõ ràng DOF trở nên dày hơn. Tuy nhiên, có một điểm khác là do bạn phải lùi ra xa nên hậu cảnh bị thay đổi, như hình chụp với máy APS-C tiêu cự tương đương 129mm nên phần hậu cảnh được phóng lên lớn hơn.
CÂU HỎI 3:    Khi tính tiêu cự quy đổi tương đương thì có phải nhân hệ số cả khẩu độ hay không?
   Một ống kính có các giá trị tiêu cự và khẩu độ là không đổi vì nó là các giá trị vật lý đo trên đặc điểm cấu tạo của ống kính, tuy nhiên các đặc tính này sẽ có biểu hiện khác nhau khi chúng ta dùng các cảm biến kích cỡ khác nhau nên mới sinh ra tiêu cự quy đổi tương đương để chúng ta có thể hình dung ra khung hình khi thay đổi kích cỡ cảm biến. Với hệ số crop 1.52x (hay vẫn được rút gọn là 1.5x) thì ống kính 85mm khi dùng trên máy ảnh APS-C sẽ tạo ra khung hình giống như chụp bằng ống kính 129 mm khi chụp từ cùng một khoảng cách do khung hình đã bị thu nhỏ lại. Để chụp cùng một khung hình như ống kính 85mm dùng với máy full frame, chúng ta phải đứng lùi lại như đã nói ở trên. Tuy nhiên, còn khẩu độ thì thế nào? Như điều 1 chúng ta đã thống nhất ở trên, càng chụp gần mẫu thì DOF càng mỏng nếu giữ nguyên các thông số khác, vậy thì nếu ống kính f/1.4 đã phải lùi ra xa hơn vị trí ban đầu (chụp trên máy full frame) thì DOF cũng trở nên dày hơn.

   Trong kết quả giả lập bên dưới, các bạn có thể thấy là ống kính 85mm f/1.4 trên full frame và ống kính 55,9mm trên crop có khung hình giống nhau khi chụp từ cùng một khoảng cách (vì tiêu cự quy đổi của 55,9mm là 85mm full frame), tuy nhiên với cùng khẩu độ f/1.4 chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy là ảnh chụp bằng ống kính 55,9mm có mức xóa phông kém hơn.
   Bây giờ nếu chúng ta tăng khẩu độ của ống kính 55,9mm lên f/0.92 (sau khi tính thêm hệ số crop) thì hai hình đã trở nên rất giống nhau. Như vậy nếu muốn chụp ra hình giống nhau giữa máy full frame và crop, chúng ta phải nhân hệ số crop với tiêu cự và cả khẩu độ. Khi xem giá trị DOF, các bạn có thể thấy là độ dày DOF giống nhau trong trường hợp này (10,1 - 10,2 mm trước mẫu và 10,6 - 10,7 mm sau mẫu).
   
   Mặc dù vậy, khẩu độ f/1.4 có độ sáng tương đương nhau giữa máy full frame và crop nên nếu khẩu độ tăng lên 0.92 thì mức độ sáng trên máy crop sẽ cao hơn máy full frame.
    DOF simulator là một công cụ có vẻ đơn giản nhưng rất hữu ích cho các bạn muốn hiểu hoặc dự đoán được hiệu ứng hình ảnh với các bộ thiết bị khác nhau. Mặc dù vậy, chương trình này vẫn còn những điểm hạn chế không phản ánh được chính xác toàn bộ hiệu ứng các bạn có thể thấy được khi chụp, trong đó có hiệu ứng tiêu cự và mức độ sáng và noise của hình. Với hiệu ứng tiêu cự, chương trình không thể hiện được độ biến dạng của chủ thể, tuy nhiên các bạn có thể tham khảo yếu tố này trong bài viết trước đây của Vsion ( https://www.vsion.vn/hieu-ung-tieu-cu-trong-chup-chan-dung ). Nếu các bạn để ý thì sẽ thấy các giá trị DOF quy đổi mặc dù trong các trường hợp tương đương vẫn có khác biệt rất nhỏ, đó là do yếu tố chúng ta không nhắc tới trong bài viết là Circle of confusion (CoC), nhưng vì yếu tố này không gây ảnh hưởng nhiều tới kết quả thu được và khá phức tạp nên Vsion không đề cập tới ở đây. 
Dr. Fox
Bài viết do Dr. Fox thực hiện
Nghiêm cấm đăng lại trên các website hay ấn phẩm khác
*** Để có thể comment bằng Disqus, đầu tiên các bạn cần đăng nhập bằng Facebook bằng cách click vào biểu tượng Facebook ở dưới
Bài viết mới

Vsion.vn

By N.Đ.Phan 12 Jan, 2018
Ricoh GR - ông vua của nhiếp ảnh đường phố. 

Nếu bạn là người yêu nhiếp ảnh đường phố, bạn không thể không biết đến Ricoh GR. Chiếc máy ảnh bỏ túi được, có kích cỡ như những chiếc Point and Shoot nhưng lại mang trong mình cảm biến "khá lớn" crop APS-C và ống kính fix 18mm f/2.8 (tương đương góc nhìn 28mm trên Fullframe). Chỉ với 2 thông số vậy thôi cũng đã đủ thấy sức hấp dẫn của nó như thế nào.

Ricoh GR là sự lựa chọn của rất nhiều nhiếp ảnh gia nổi tiếng dùng cho chụp đường phố. Trong số đó có lẽ không thể không kể đến Eric Kim, một nhiếp ảnh gia người Mỹ, gốc Hàn (và có một cô vợ gốc Việt Nam). Eric khá nổi tiếng với những bài viết blog của mình về nhiếp ảnh đường phố, những workshop hướng dẫn và chia sẻ kinh nghiệm chụp ảnh đường phố khá hấp dẫn thú vị. Và Ricoh GR là chiếc máy được Eric sử dụng nhiều nhất và yêu thích nhất dành cho mục đích của mình, mặc dù đã trải qua cực kỳ nhiều những siêu phẩm và những chiếc máy nổi tiếng khác, kể cả Leica M6 hay Leica M9.

Vậy điều gì làm cho Ricoh GR hấp dẫn đến như vậy? Đã có rất nhiều bài viết, đánh giá về chiếc máy này, bản thân Eric cũng đã sống ở Việt Nam một khoảng thời gian không ngắn và có những workshop chia sẻ về điều này ở đây. Tuy nhiên tôi cũng xin tóm tắt lại với một số điểm chính như sau:

1. Ricoh GR rất bé , là một chiếc máy ảnh có thể đút vào túi quần bò của bạn. Đây là chiếc máy thứ 2 tôi cảm thấy có thể đút túi được và chụp một cách thoải mái nhất trên đường phố (chiếc máy còn lại là series RX100 của Sony). Và vì GR rất nhỏ, nên khi bạn cầm chụp trên phố, sẽ chẳng có ai để ý đến bạn đang làm gì hay cảm thấy khó chịu. Riêng điểm này thôi đã đủ để GR là một chiếc máy tuyệt vời với người chụp ảnh phố, và nó cũng rất thích hợp với những ai thích du lịch nhẹ nhàng.
By N.Đ.Phan 05 Jan, 2018
Máy ảnh Compact, máy ảnh PnS (Point and Shoot) hay máy ảnh phổ thông là những cụm từ có lẽ rất quen thuộc đối với đại đa số cộng đồng trong những năm 1990 hay 2000. Đó là thời điểm mà sự phổ biến của DSLR hay Mirrorless vẫn là những thứ xa xỉ ít có ai biết đến. Trên thực tế, cụm từ hay thao tác "ngắm và chụp" (Point and Shoot) thật ra vẫn rất phổ biến hiện nay, đó là sự "đơn giản" cần thiết để chụp một bức ảnh đẹp với số đông, những người  "không quá quan tâm" đến nhiếp ảnh. Những chiếc Compact vẫn có chỗ đứng nhất định, những chiếc Smartphone vẫn là những "máy ảnh" thuận tiện nhất, và kể cả những siêu phẩm đắt đỏ ngày nay cũng dần tối giản hóa, cố gắng đem lại trải nghiệm đơn giả nhưng cho ra những bức hình xuất sắc nhất, và những thiết bị đạt được cái yêu cầu tưởng chừng như dễ dàng đó lại có những mức giá cao ngất ngưởng (ví dụ như Leica Q hay RX1R mark II). 

Nói lan man như vậy với mục đích chính là hôm nay, người viết muốn chia sẻ một chút trải nghiệm của bản thân với một sản phẩm không hề mới, nhưng vẫn rất tốt và thực sự thú vị, chiếc máy ảnh Compact Sony RX100 Mark III. 
By Dr. Fox 26 Dec, 2017
   Từ khi khái niệm bokeh (đọc là bô kêy) để chỉ vùng chi tiết không được lấy nét trong một tấm hình được ra đời, người ta thường chỉ phân biệt bokeh có mịn hay không, tức là các chi tiết bokeh có đường viền xác định rõ ràng với khu vực xung quanh hay không, bokeh có tròn hay không, hay bokeh có xoáy hay không...  nhưng càng về sau, khi nhắc tới các ống kính hiện đại hơn người ta lại nhắc thêm tới một loại bokeh nữa rất oái oăm, là bokeh ... vân hành, hay bokeh củ hành ( onion ring bokeh ). Đây là dạng bokeh có những đường vân xoáy hoặc đường tròn đồng tâm nằm trong bóng bokeh, rất giống các đường vân của củ hành khi thái ngang (như ở hình đầu tiên). Không phải ống kính nào cũng tạo ra dạng bokeh vân hành như thế này và cũng trong những điều kiện độ sáng và bóng tròn bokeh lớn nhất định thì chúng ta mới có thể thấy rõ, nhưng rõ ràng phần lớn mọi người đều không thích sự xuất hiện của những đường vân này trong khung hình của mình. 

   Hình bên dưới, nếu các bạn còn nhớ, là hình mình so sánh bokeh của hai ống kính SLR Magic 35mm f/1.2Samyang 35mm f/1.4 có dạng bokeh rất khác nhau, trong đó bokeh của Samyang có dạng vân hành rất rõ, còn tuyệt nhiên ống kính SLR Magic không tạo ra bokeh dạng này. Điểm khác biệt quan trọng giữa hai ống kính này là SLR Magic không sử dụng thấu kính phi cầu trong thiết kế, còn Samyang có sử dụng 1 thấu kính phi cầu ( Aspherical hay ASPH ) như phần màu vàng nhạt trong bản vẽ thiết kế.
By Dr. Fox 22 Dec, 2017
   Trong bài viết trước, Vsion đã có dịp giới thiệu với các bạn ống kính IRIX 15mm f/2.4 và so sánh chất lượng với 2 ống kính Voigtlander 15mm f/4.5 ( đọc bài viết ). Tuy nhiên IRIX 15mm là ống kính DSLR nên có thể người dùng máy ảnh DSLR (Canon, Nikon, Pentax...) sẽ có câu hỏi về chất lượng của ống kính này so với Samyang 14mm f/2.8 , vốn là ống kính siêu rộng (ultrawide) giá rẻ vốn đã có mặt trên thị trường một thời gian. Trong bài viết này, Vsion sẽ đánh giá chi tiết Samyang 14mm f/2.8 và so sánh chất lượng với IRIX 15mm f/2.4 để các bạn có thể quyết định được ống kính nào phù hợp với mình hơn trong phân khúc này. Để tìm hiểu chi tiết hơn về IRIX 15mm thì các bạn có thể đọc ở bài viết trước theo link ở trên.

   Kể từ khi ra đời vào năm 2009, Samyang 14mm f/2.8 là ống kính fix lấy nét tay duy nhất có tiêu cự 14mm trên thị trường, đồng thời cũng là ống kính siêu rộng không phải fisheye (rectilinear) rẻ nhất cho máy ảnh DSLR full frame. Samyang 14mm f/2.8 phiên bản đầu tiên có viền màu vàng và phiên bản hiện nay trên thị trường có viền màu đỏ (dưới nhiều cái tên khác nhau như Rokinon , Bower , Walimex , Polar , Pro Optics ). Ngoài ra, ống kính này còn có hai phiên bản cine dùng cho quay phim với thiết kế bên ngoài có vòng lấy nét và vòng chỉnh khẩu dạng bánh răng, khẩu độ biểu diễn theo T-stop (14mm T3.1) và giá đắt hơn bản thường khoảng 1-2 triệu đồng (bản VDSLR) còn bản chuyên nghiệp hơn mang tên XEEN , có giá khoảng 50 triệu đồng. Tuy nhiên, tất cả các phiên bản được nhắc tới ở trên đều có cùng thiết kế và chất lượng quang học . Các ống kính Samyang dành cho máy DSLR như 14mm f/2.8 sẽ có nhiều phiên bản với phần ngàm khác nhau (và độ dài, khối lượng giữa các bản này cũng hơi khác nhau một chút) và trong bài đánh giá này, mình dùng bản dành cho Canon EF và dùng trên máy Sony A7ii qua ngàm Canon EF-Sony NEX  Viltrox II . Ống kính IRIX 15mm f/2.4 cũng có ngàm Canon và sử dụng chung ngàm chuyển này để thực hiện so sánh.

   Hiện nay, Samyang 14mm f/2.8 đã có phiên bản có khả năng AF dành cho máy Sony không gương lật ngàm Ephiên bản chất lượng cao Samyang XP 14mm f/2.4 (cũng là ống kính MF, ngàm DSLR). Các phiên bản này ra đời sau và đều được cải thiện chất lượng so với Samyang 14mm f/2.8 bản MF đầu tiên này, tuy nhiên chất lượng các ống kính này sẽ được đánh giá sau khi Vsion có điều kiện.
By Dr. Fox 13 Dec, 2017
   Với những người mới làm quen với nhiếp ảnh hay mới thay đổi thiết bị với kích cỡ cảm biến, tiêu cự thay đổi thì có những câu hỏi đã trở nên rất phổ biến như: Với tiêu cự này thì phải chụp bán thân / toàn thân từ cách bao xa? Ống kính 85mm f/1.2 với 135mm f/2 để chụp ra cùng khung hình thì khi dùng ống 135mm phải lùi thêm bao xa? Hai ống này có mức độ "xóa phông" khác nhau như thế nào?... Những câu hỏi này có thể giúp người dùng hình dung được hiệu ứng và khoảng không gian cho phép để sử dụng một bộ thiết bị nhất định, nhưng có phải ai cũng có đủ kinh nghiệm để trả lời những câu hỏi đó chính xác không?

   Để đáp ứng cho nhu cầu này,  Michael Bemowski  đã viết ra một phần mềm giả lập hiệu ứng ảnh tên là DOF simulator chạy trên nền tảng Web hoặc Android. Các bạn có thể vào địa chỉ:  https://dofsimulator.net/en/  (phiên bản trên Web) hoặc download phần mềm về thiết bị chạy Android qua link sau:  https://play.google.com/store/apps/details?id=pl.michalbemowski.dofsimulator&hl=en

   Trong bài viết này, Vsion sẽ hướng dẫn các bạn dùng phần mềm này để trả lời những câu hỏi như ở trên. Khi bạn vào trang Web của DOF simulator thì bạn sẽ thấy giao diện như ở dưới. Mình sẽ giải thích vai trò của các thông số theo các phần 1, 2, 3 như đánh dấu ở bên trái hình.
By N.Đ.Phan 11 Dec, 2017
Trải nghiệm với lens Contax G trên hệ máy Sony mirrorless tốt hay không? Chất lượng của lens Contax G như thế nào? Có xứng đáng để sử dụng và đầu tư các loại ngàm chuyển đắt tiền hay không? Câu hỏi đã được đặt ra khá nhiều trên các group ảnh và Vsion xin đưa ra một câu trả lời ngắn gọn sau trước khi đi vào bài viết - KHÓ CÓ ỐNG KÍNH MF CỔ NÀO CÓ THỂ VƯỢT QUA CHẤT LƯỢNG CỦA CONTAX G TRONG CÙNG TẦM GIÁ. 

Tại sao lại là Sony? 
Contax G chỉ có thể chơi trên máy số thông qua những chiếc máy mirrorless, và Sony là hệ thống duy nhất có Fullframe mirrorless để mang lại trải nghiệm chính xác và tuyệt vời nhất dành cho Contax G. 

Vậy tại sao lại cần trải nghiệm Contax G?  Contax G vẫn là lựa chọn hàng đầu của người viết cho một hệ ống kính với chất lượng quang học tuyệt vời, giá thành hợp lý, có khả năng AF với Sony A7 series, cực kỳ nhỏ gọn và một lý do rất quan trọng khác... hệ máy và ống kính Contax G rất đẹp và sang trọng. 
More Posts
Share by: