Vượt qua giới hạn thiết bị - Phần 1: Phương pháp Brenizer

  • By Vsion team
  • 31 May, 2017
Trong loạt bài viết "Vượt qua giới hạn thiết bị" Vsion xin giới thiệu với bạn đọc các phương pháp chụp và xử lý ảnh để có thể đạt hiệu ứng tốt hơn khả năng thông thường của thiết bị.
   Khi đắn đo chuyện mua ống kính, các bạn có thể để ý rằng thông thường các ống kính cùng tiêu cự của một hãng mà khẩu độ tăng 1 stop là giá tiền có thể gấp 2 - 3 lần và khác biệt này đôi khi khiến chúng ta lưỡng lự là liệu có đáng hay không. Nếu bạn có trong tay một ống kính 50mm f/1.8 nhưng muốn có trường nét (DOF) mỏng như một ống kính 50mm f/1.2 hay bạn dùng một chiếc máy crop (APS-C) nhưng muốn ống kính chụp hình ra giống trên máy full frame, bạn có thể làm gì ngoài việc mua ống kính hoặc máy ảnh mới? Tất nhiên mua thiết bị mới có thể giải quyết được nhiều vấn đề một cách đơn giản nếu bạn có khả năng chi trả, nhưng trong nhiếp ảnh chúng ta vẫn có những lối đi tắt để đạt được hiệu quả thiết bị cao hơn mà không cần phải dùng thiết bị khác tốt hơn. Điều các bạn cần là thêm chút công sức, cái này chắc chắn nhanh và đơn giản hơn chuyện cân nhắc đầu tư mà bạn có thể làm bất cứ lúc nào khi bạn có đủ điều kiện. Trong bài viết đầu tiên của loạt bài "Vượt qua giới hạn thiết bị", Vsion muốn giới thiệu với các bạn phương pháp Brenizer hay còn gọi là Bokeh Panorama để chụp ảnh với DOF mỏng hơn bình thường và tăng độ phân giải ảnh.
   Phương pháp này được đặt theo tên của nhiếp ảnh gia chụp ảnh cưới Ryan Brenizer do anh là người tích cực quảng bá phương pháp này trong những năm gần đây, tuy nhiên Brenizer không phải người phát minh ra phương pháp này. Từ những năm 1843 phương pháp này đã được công bố sáng chế bởi Joseph Puchberger, tuy nhiên nó không thực sự phổ biến cho đến khi nhiếp ảnh kỹ thuật số ra đời với các công cụ chỉnh sửa như Photoshop giúp việc ghép ảnh trở nên đơn giản hơn rất nhiều.

Tác giả: Erik de Klerck (Nikon D800, 135mm f/2, hiệu ứng tương đương 48mm f/0.7). Click vào hình để xem ảnh gốc.

  GIỚI THIỆU PHƯƠNG PHÁP BRENIZER

    Brenizer hay Bokeh panorama thực chất là một phương pháp ghép chồng ảnh ( panoramic stitching ) giống như chụp panorama để có khung hình rộng hơn, nhưng thay vì dùng cho chụp cảnh, phương pháp này chủ yếu được dùng để chụp chân dung, tĩnh vật để đạt cùng một độ dày DOF trên một khung hình rộng hơn. Về nguyên tắc cơ bản, Brenizer hay panorama đều mở rộng giới hạn ảnh một ống kính có thể chiếu lên cảm biến và kết quả là ảnh sẽ giữ nguyên DOF nhưng rộng hơn và dung lượng ảnh tăng cao do kết hợp nhiều ảnh thành phần. Như ảnh minh họa ở trên do Erik de Klerck chụp, hiệu ứng đem lại khi ghép nhiều tấm ảnh chụp bằng ống kính 135mm f/2 có thể ra hiệu ứng giống như chụp bằng ống kính 48mm f/0.7 với DOF rất mỏng nhưng khung hình vẫn rộng.
   Mặc dù về nguyên tắc Brenizer giống panorama: cố định các thông số máy ảnh, ống kính và chụp liên tiếp nhiều tấm ảnh khi đưa máy theo chiều ngang, chiều dọc với những khu vực chồng lên nhau để ghép lại ảnh trong quá trình hậu kỳ, tuy nhiên có thể bạn sẽ rất ngại nếu nghĩ đến chuyện chụp chân dung mà phải bố trí thiết bị như đi chụp cảnh. Trong bài viết này mình muốn phân tích và hướng dẫn các bạn cách chụp Brenizer nhanh và phù hợp với điều kiện chụp thông thường.
   Đầu tiên, mình muốn giới thiệu cách chụp để ống kính của bạn trên máy ảnh crop (APS-C) vẫn ra hiệu ứng giống như chụp trên máy ảnh full frame mà gần như không có crop factor, thậm chí bạn còn chụp được ảnh dung lượng cao hơn chụp bằng máy full frame.
   Như các bạn đã biết, với kích thước cảm biến nhỏ hơn cảm biến full frame, các máy crop chỉ có thể ghi nhận phần giữa hình ảnh đi qua ống kính full frame và chúng ta phải nhân hệ số crop để tính ra tiêu cự quy đổi tương đương của ống kính. Ví dụ như ống kính 50mm f/1.2 trên máy có hệ số crop 1.5x sẽ có góc nhìn tương đương ống kính 75mm f/1.2 trên máy ảnh full frame và có độ dày trường nét DOF tương đương ống kính 75mm f/1.8 nếu hai máy chụp ra cùng một khung hình. Bây giờ chúng ta có thể dùng Brenizer để dù bạn chụp bằng máy APS-C, hiệu ứng ảnh vẫn giống ống 50mm f/1.2 trên máy full frame, và thậm chí còn hơn thế nữa.
   Với kích thước cảm biến full frame (36 x 24 mm) và crop APS-C 1.5x (22.2 x 14.8 mm) các bạn có thể thấy trong hình A, theo tính toán của mình thì nếu bạn quay dọc máy APS-C và chụp 3 tấm liên tiếp với khoảng 30% diện tích ảnh trước chồng lên ảnh sau thì tổng diện tích ảnh sẽ gần tương đương 1 tấm ảnh full frame chụp ngang (hình B). Như vậy, nếu bạn dùng ống kính 50mm f/1.2 trên máy APS-C và chụp 3 tấm chồng nhau khi xoay dọc máy, bạn sẽ có 1 tấm hình gần giống như chụp bằng ống kính này trên máy full frame. Mình chứng minh điều này ở loạt ảnh bên dưới:

1. Ảnh đầu tiên chụp bằng Canon FD 50mm f/1.2L trên Sony A7ii (full frame) ở khẩu f/1.2.

2. Ảnh thứ hai là cùng ống kính trên Sony A6300 (APS-C) chụp ở cùng khẩu f/1.2 (bạn sẽ chỉ chụp được phần trung tâm của hình đầu).

3. Mình chụp 3 tấm hình khi quay dọc máy A6300, sao cho khoảng 30% ảnh chồng lên nhau, sau đó ghép bằng Photoshop (rất nhanh, chỉ mất vài phút).

4. Ảnh sau khi ghép so với ảnh gốc có kích cỡ lớn hơn hẳn mà nhìn hiệu ứng khá giống nhau.

5. Chồng khung hình ảnh Brenizer lên ảnh gốc để so sánh hiệu ứng. Do lúc chụp bằng A6300 ống kính tiến tới sát vật thể hơn nên thực ra ảnh ghép còn có DOF mỏng hơn ảnh trên máy full frame một chút.

Sony A7II + Canon FD 50mm f/1.2L (chụp tại f/1.2)

Sony A6300 + Canon FD 50mm f/1.2L (chụp tại f/1.2)

Cách ghép 3 ảnh chụp bằng A6300 để tạo hiệu ứng giống như chụp bằng máy full frame

So sánh kích thước ảnh chụp trên full frame và ảnh chồng Brenizer

So sánh hiệu ứng DOF sau khi chồng Brenizer với ảnh chụp trên máy full frame

   Tương tự, nếu đang dùng máy ảnh full frame, bạn có thể tạo ra hiệu ứng như chụp trên máy ảnh medium format với cách chụp tối thiểu 3 hình xoay dọc máy. Với cách này, bạn có thể cheat khẩu độ với các ống kính đang có bằng cách chồng ảnh Brenizer nhưng khi chụp tiến gần tới chủ thể. Ở hai hình bên dưới, các bạn có thể thấy mình dùng ống kính SLR Magic 25mm f/1.4 trên A7ii nhưng có thể tạo ra ảnh tương đương khoảng 25mm f/0.8 bằng cách rút ngắn khoảng cách chụp và chồng 8 ảnh. Lưu ý là ở ảnh chồng Brenizer phía hậu cảnh thể hiện độ cong do khoảng cách chụp gần hơn và do Photoshop làm méo hình để ghép ảnh lại với nhau. Cũng vì thế, phương pháp này thường phổ biến hơn với ống tele do khi thay đổi hướng chụp thì khác biệt giữa các khung hình về độ méo là không đáng kể.

Sony A7ii + SLR Magic 25mm f/1.4 (chụp tại f/1.4)

Ảnh ghép Brenizer từ 8 ảnh chồng chụp bằng A7ii và SLR Magic 25mm f/1.4 để đạt hiệu ứng tương đương 25mm f/0.8. Lưu ý là ảnh sau khi ghép có góc nhìn hẹp hơn ảnh trên một chút nhưng DOF mỏng hơn rất rõ.

  CÁCH CHỒNG ẢNH BRENIZER TRÊN PHOTOSHOP

   Sau khi chụp các ảnh thành phần để ghép, các bạn mở Photoshop (hoặc các phần mềm ghép ảnh Panorama) để thực hiện ghép ảnh. Trong Photoshop, các bạn vào File --> Automate --> Photomerger... , sau đó chọn Layout là Auto rồi chọn file để ghép. Nếu các bạn đang mở các file trong Photoshop thì dùng chức năng Add Open Files (Photoshop sẽ chọn tất cả file đang mở), sau đó chọn bỏ những ảnh không dùng tới bằng chức năng Remove.
   Nếu ảnh của bạn bị tối góc nặng thì nên chọn thêm tùy chọn Vignette removal  và chọn Geometric Distortion Correction nếu thấy ảnh bị méo nặng. Sau khi nhấn OK thì máy sẽ tự động ghép ảnh lại và chia thành các layer chồng lên nhau. Các bạn có thể merge các layer ảnh với nhau rồi xử lý hậu kỳ hoặc dùng layer style để áp hiệu ứng lên tất cả các layer bên dưới.

  LƯU Ý KHI CHỤP ẢNH THÀNH PHẦN TRƯỚC KHI GHÉP

   Giống như chụp panorama, có một số điểm các bạn cần làm theo khi chụp ảnh thành phần để quá trình ghép được chuẩn:

   1. Khi chụp cần để máy ở chế độ M với khẩu độ, tiêu cự (nếu dùng ống zoom), tốc độ, ISO, cân bằng trắng cố định. Trong trường hợp bạn không chắc chắn về cân bằng trắng, bạn có thể chụp AWB (cân bằng trắng tự động) và chụp RAW, vì khi xuất ảnh RAW bạn có thể gán cùng 1 giá trị cân bằng trắng cho tất cả ảnh.

   2. Ưu tiên chủ thể có khả năng chuyển động và bị rung trước. Khi chụp chân dung, mình sẽ chụp 1 ảnh người trước, sau đó đưa máy sang các khu vực xung quanh để chụp thêm các ảnh chồng. Sau khi lấy nét vào chủ thể, bạn cần khóa nét và xoay máy giống như lúc chụp panorama (máy chỉ quay sang trái phải mà vị trí chụp không thay đổi). Cũng vì vậy, ngoài việc chụp ảnh RAW thì phương pháp này sẽ dễ hơn khi bạn chụp bằng ống kính lấy nét tay.

   3. Nếu máy ảnh của bạn có chức năng chụp Panorama thì đây là cách dễ nhất để chụp Brenizer, tuy nhiên cần lưu ý là một số máy không cho phép chụp RAW ở chế độ này.

   4. Hướng dẫn trên là cách nhanh nhất để bạn tạo hiệu ứng với thay đổi hệ số crop khoảng 1.5x, còn nếu muốn tăng hiệu ứng hơn nữa thì bạn cần chụp nhiều ảnh chồng lên nhau. Trong thực tế, bạn có thể chụp theo đường zigzag từ trên xuống dưới như trong hình sau:

Minh họa chụp Brenizer với 24 ảnh thành phần trên trang lifedotstyle.com. Click vào hình để xem bài gốc.

  CÁC ỨNG DỤNG KHÁC CỦA PHƯƠNG PHÁP BRENIZER

 Mục đích chính của bài viết này là mình muốn giới thiệu với các bạn một phương pháp nhanh để tấm ảnh thêm ấn tượng, nhất là với các bạn đang dùng máy ảnh crop, ống kính crop hoặc ống kính full frame nhưng muốn có hiệu ứng ảnh như máy full frame. Tuy nhiên đây không chỉ đơn thuần chỉ là phương pháp để "nghịch chơi" mà vẫn được ứng dụng trong thực tế, phổ biến nhất là chụp ảnh cưới và chụp chân dung toàn thân. Ngoài ra, các bạn có thể dùng nó cho các mục đích như sau:
   1. Cải thiện độ nét mà không phải hy sinh DOF : nếu ống kính của bạn chụp quá soft ở khẩu lớn nhất, bạn có thể hạ khẩu xuống khoảng 1 stop  để tăng độ nét rồi chụp gần lại với 2/3 khoảng cách ban đầu , ghép 3 tấm chụp dọc sẽ ra một tấm chụp ngang gần y như chụp ở khẩu lớn nhất.

    2. Giảm tiêu cự: nếu muốn góc nhìn rộng hơn, ví dụ như bạn chụp trong quán cafe mà ống kính góc quá hẹp thì bạn có thể nới rộng khung hình bằng Brenizer. Để làm rộng khung hình ngang, bạn cần tối thiểu 3 hình dọc chồng nhau, còn để làm rộng khung hình dọc, bạn cần tối thiểu 3 hình ngang chồng nhau.

   3. Chụp ảnh kích cỡ lớn để in : thay vì chụp 1 shot toàn khung hình, bạn có thể chia nhỏ khung hình, chụp gần lại và chụp nhiều ảnh thành phần đề ra một tấm ảnh có độ phân giải rất tốt. Tuy nhiên cần lưu ý là khoảng cách lấy nét gần nhất và tiêu cự ống kính là hai yếu tố giới hạn bạn khó có thể vượt qua. Ống kính tele sẽ phù hợp nhất cho mục đích này.

    4. Chụp ảnh clone: bạn hoàn toàn có thể tạo nhiều clone của mẫu bằng cách di chuyển mẫu vào các khung hình khác nhau trước khi ghép.
   
   5. Đạt hiệu ứng không ống kính nào trong thực tế có thể đem lại
: 48mm f/0.7? 200mm f/1.2? Brenizer là cách đơn giản và duy nhất để bạn có thể khám phá những hiệu ứng của khẩu độ siêu lớn như vậy.

  ẢNH MẪU

   Nếu sử dụng phương pháp này thành thạo, bạn hoàn toàn có thể tạo ra những tấm ảnh vừa rộng vừa có hiệu ứng không gian và bokeh lung linh như những ảnh dưới đây.

Tác giả: Ryan Brenizer. Ảnh ghép từ 10 tấm ảnh nhỏ.

Tác giả: Erik de Klerk.

Tác giả: Photo-Lovestory (Flickr)

Nguồn: Fstoppers.com. Click vào hình để xem thêm ảnh mẫu.

Nguồn: Hushushphotography

Dr. Fox
Bài viết được thực hiện bởi Dr. Fox
Nghiêm cấm sử dụng lại trên các trang web và ấn phẩm khác
*** Để có thể comment bằng Disqus, đầu tiên các bạn cần đăng nhập bằng Facebook bằng cách click vào biểu tượng Facebook ở dưới
Bài viết mới

Vsion.vn

By Vsion team 01 Nov, 2017
   Với người sử dụng máy ảnh Sony không gương lật ngàm E thì kho ống kính ngàm A của Sony / Minolta là một nguồn ống kính rất phong phú với giá cả phải chăng và chất lượng tốt. Vì thế khi phát triển hệ thống máy ảnh ngàm E thì Sony cũng thiết kế các ngàm chuyển để người dùng có thể sử dụng được ống kính ngàm A trên máy ảnh ngàm E. Hiện nay có 4 loại ngàm chuyển tên là LA-EA ( L ens A dapter for E -mount cameras to use  A - mount lenses) được phân biệt như sau:

  • LA-EA1 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A có motor trong (SSM và SAM); ống kính không có motor lấy nét (điều khiển qua ốc vít) của Minolta và một số ống kính của Sony chỉ có thể lấy nét tay chứ không AF được. Ngàm này không có kính mờ (translucent mirror) ở giữa.

  • LA-EA2 : Dùng cho máy crop (APS-C) và ống kính autofocus ngàm A không có motor trong (điều khiển qua ốc vít). Ngàm này có sử dụng kính mờ ở giữa ngàm nên làm giảm 30% lượng ánh sáng đi qua ống kính. Để điều khiển lấy nét, ngàm có hệ thống motor lấy nét nằm trong ngàm và hoạt động độc lập với camera nên tốc độ lấy nét, số điểm lấy nét không phụ thuộc máy ảnh. Ngàm sử dụng 15 điểm lấy nét theo pha (PDAF) trong đó có 3 điểm là cross-type .

  • LA-EA3 : giống LA-EA1 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame (ống kính crop sẽ không bao phủ được toàn bộ cảm biến).

  • LA-EA4 : giống LA-EA2 nhưng dùng cho máy ảnh full frame và ống kính full frame. LA-EA4 hoạt động được với tất cả ống kính ngàm A của Minolta, Sony, Tamron, Sigma, ngoại trừ các ống kính Minolta AF Xi.
By Vsion team 31 Oct, 2017
   Vào những năm 1850, nhiếp ảnh đã trở nên phổ biến và đỡ tốn kém hơn với nhiều người. Đây cũng là nguyên do dẫn tới một trào lưu trong thời kỳ Victoria (thời kỳ trị vì của Nữ hoàng Anh quốc Victoria từ 1837 tới 1901) gọi là trào lưu chụp ảnh cùng người mới chết ( post-mortem photography ) khi người chết được chụp ảnh trong cùng album với những người thân thích trong gia đình. Dưới đây là 2 phút video tài liệu về trào lưu này được thực hiện bởi kênh HISTORY .

   Được biết tới với cái tên memento mori (nghĩa là " hãy nhớ là bạn phải chết " - " remember you must die "), trào lưu này ngày càng trở nên thịnh hành và ngay cả Nữ hoàng Victoria cũng ngủ dưới tấm hình người chồng quá cố của mình.
By Vsion team 30 Oct, 2017
   Sigma là tập đoàn sản xuất thiết bị ngành ảnh lâu đời của Nhật được ra đời vào năm 1961 bởi Michihiro Yamaki và ông cũng là CEO của công ty cho tới khi qua đời vào năm 2012. Vẫn được biết đến như một công ty sản xuất ống kính cho các hệ máy ảnh của các hãng lớn và phục vụ hệ máy ảnh của chính công ty mình, các ống kính của Sigma có thể hoạt động trên các máy ảnh DSLR của Canon, Nikon, Pentax thông qua quá trình thiết kế bắt chước phương thức lấy nét tự động (AF) của các loại máy ảnh này. Các ống kính của Sigma có chất lượng thường được xếp sau các ống kính "chính hãng" và có mức giá dễ chịu hơn.

   Vào năm 2013, sau khi Michihiro Yamaki mất, Sigma cũng bắt đầu một cuộc cách mạng mới được đánh dấu với sự ra đời của dòng ống kính Global Vision với các ống kính được nâng cấp từ các ống kính hãng đã từng chế tạo theo tiêu chuẩn cao và nghiên cứu phát triển những ống kính mới chưa từng xuất hiện trên thị trường. Một điểm đặc biệt nữa của các ống kính Global Vision là Sigma lần đầu tiên nhận thay ngàm cho các ống kính này nếu người sử dụng có nhu cầu đổi hệ máy mà không muốn đổi ống kính. Ngoài ra, các ống kính Global Vision đều tương thích với Sigma USB Dock là một thiết bị kết nối trực tiếp với ống kính thông qua ngàm tương thích và điều khiển thông qua máy vi tính để cân chỉnh khả năng focus của ống kính, giúp người dùng có thể tự điều chỉnh ống kính khi độ chính xác chưa được như mong muốn.
By Vsion team 27 Oct, 2017
   Sau 2 năm rưỡi kể từ ngày Sony công bố A7R mark II (tháng 6 năm 2015), ngày hôm qua Sony đã chính thức công bố thế hệ thứ ba của chiếc máy ảnh full frame không gương lật cao cấp này. Trái với thứ tự ưu tiên công bố, thay vì công bố máy A7 dòng R (High Resolution - độ phân giải cao) sau A7 thì lần này Sony công bố A7R mark III  (hay A7RIII ) đầu tiên trong series mới. Động thái này có thể là lời đáp trả của Sony với sự kiện Nikon công bố máy ảnh full frame DSLR thế hệ mới D850 hồi tháng 4. Đây là một bất ngờ lớn với cộng đồng nhiếp ảnh vì những thông tin gần đây nhất có được đều hướng về A7 mark III. So với A7RII thì A7RIII có nhiều nâng cấp nhỏ thay vì cải tiến đột phá về công nghệ, thế nên chúng ta hãy nhìn vào chi tiết các tính năng và đặc điểm mới của chiếc máy này xem nó có phải một phiên bản tốt hơn hẳn thế hệ trước hay không.

   Bài viết này của Vsion chỉ tập trung phân tích các đặc tính được công bố của hãng cùng thông tin bổ sung từ các reviewer nên chúng ta vẫn cẩn xác nhận lại khi chiếc máy ảnh này đến tay người dùng. Cuối bài viết, chúng tôi cũng cung cấp bảng so sánh chi tiết A7RIII so với A7RII và Nikon D850 để bạn đọc có thể có cái nhìn đầy đủ về mối tương quan của chiếc máy ảnh này với hai lựa chọn gần với nó trên thị trường.
By Vsion team 18 Oct, 2017
   Chắc hẳn sẽ có lúc nào đó trong chuỗi ngày cầm máy ảnh, bạn sẽ thấy bí bách với những tấm ảnh mình thường chụp, với mức độ "xóa phông" của ống kính mình hay dùng, với những câu hỏi căn bản như ảnh của mình có lấy đúng nét hay không, bokeh có mịn màng không... Hoặc bạn sẽ thấy ống kính của mình rất giới hạn ở khả năng chụp gần, không tạo hiệu ứng 3D, khó tạo điểm nhấn đặc biệt... Nếu bạn gặp phải những chuyện này thì đó là chuyện hoàn toàn bình thường và rất dễ gặp khi chúng ta bị gò bò trong cách sử dụng các thiết bị các bạn đang có trong tay. Khi bắt đầu loạt bài viết Vượt qua giới hạn thiết bị , mình có suy nghĩ là muốn giới thiệu với các bạn những cách tiếp cận để tăng hiệu quả quang học của thiết bị và làm tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí quang học như đạt DOF mỏng hơn giới hạn, khử noise tốt hơn khả năng của máy, tuy nhiên một tấm ảnh đẹp không nhất thiết phải là một tấm ảnh tốt hơn về các tiêu chí chất lượng hình ảnh. Nếu như hai bài viết trước giúp các bạn phần nào cải thiện giới hạn trên của các thiết bị, trong bài viết thứ ba này mình muốn giới thiệu tới các bạn cách để vượt qua... giới hạn dưới của ống kính. Freelensing là tên của kỹ thuật nhiếp ảnh (hay lens whacking trong quay phim) giúp chúng ta gỡ bỏ những ràng buộc của ống kính và máy ảnh, làm tấm ảnh bộc lộ rõ những "điểm yếu về quang học" mà chúng ta thường tránh như hiện tượng lệch mặt phẳng nét, giảm độ nét hay bị light leak và flare khắp mọi nơi, nhưng đó mới là những thứ chúng ta cần khai thác để tạo ra những tấm ảnh có phong cách mới lạ và sáng tạo.

   Đầu tiên, mời các bạn xem video dưới đây do tác giả James Miller thực hiện hoàn toàn bằng phương pháp lens whacking để hiểu được hiệu ứng chúng ta sẽ đạt được bằng phương pháp này.
By Vsion team 13 Oct, 2017
   Ngày nay khá nhiều người mới tập sử dụng máy ảnh với ống kính AF có thể ngạc nhiên khi nhắc tới khái niệm lỗ khẩu hay lá khẩu, và khái niệm khẩu độ chỉ thể hiện bằng con số có thể điều chỉnh trên máy ảnh. Lý do là hiện nay máy ảnh đã được thiết kế để người dùng không phải điều chỉnh khẩu độ bằng tay thông qua cơ chế cơ học nữa (tuy nhiên vẫn có những loại ống kính cho phép điều khiển vòng khẩu độ mặc dù nó được điều khiển điện) và lá khẩu chỉ đóng rất nhanh khi chụp ảnh. Vì thế nên nếu các bạn không để ý, cũng dễ hiểu khi các bạn chưa từng nhìn thấy hình dạng cái lỗ khẩu nó ra làm sao.

   Vai trò của lỗ khẩu là một vị trí trong ống kính có thể điều khiển diện tích thông qua việc đóng, mở các lá khẩu và thay đổi lượng ánh sáng đi qua ống kính, từ đó giúp bạn điều chỉnh độ sâu trường ảnh, độ nét, mức độ sáng của hình. Trong thời kỳ ống kính chưa có hệ thống motor điều khiển lấy nét tự động thì các ống kính nhiếp ảnh đều có vòng khẩu độ nằm trước hoặc nằm sau vòng lấy nét để giúp bạn điều chỉnh giá trị f-stop. Do việc điều chỉnh khẩu độ hoàn toàn là cơ học nên một thao tác quan trọng khi dùng máy film để lấy nét là bạn mở vòng khẩu độ ra hết cỡ để lấy nhiều ánh sáng nhất có thể (nếu không viewfinder sẽ tối), sau đó lấy nét vào điểm mong muốn rồi mới hạ vòng khẩu độ này xuống giá trị f-stop bạn cần để chụp. Để phục vụ cho nhu cầu này, nhiều ống kính lấy nét tay (MF) có thêm một vòng khẩu độ nữa, có tác dụng giới hạn vòng khẩu độ thứ hai. Đây gọi là các ống kính pre-set (xác lập trước) mà khi sử dụng bạn cần chỉnh một vòng khẩu độ đến giá trị mong muốn, sau đó vặn vòng khẩu độ thứ hai di chuyển rất nhanh giữa vị trí mở khẩu độ lớn nhất và vị trí bạn đã xác lập trước mà không cần phải nhìn lại thân ống kính.
More Posts
Share by: